Tag Archives: bệnh tim mạch

CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ

Một ngày cuối tháng 7, bác T.T.V (62 tuổi) từ Thái Nguyên xuống Hà Nội thăm khám, khi không chịu nổi cơn đau như chuột rút ở đùi và bắp chân khi đi bộ, leo cầu thang hay làm gắng sức. Triệu chứng xuất hiện từ lâu, thường đỡ hơn khi được nghỉ ngơi. Từ trước, bác và gia đình vẫn cho rằng đây chỉ là triệu chứng thường gặp của bệnh viêm khớp hay đau dây thần kinh toạ ở người già.

Tại bệnh viện Đông Đô, sau khi thăm khám chẩn đoán sơ bộ và thực hiện các xét nghiệm như xét nghiệm máu, siêu âm động mạch chi dưới,… các bác sĩ đã chẩn đoán bác bị xơ vữa động mạch ngoại biên (PAD).

CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ
Hình ảnh động mạch xơ vữa tắc nghẽn
CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ
Hình ảnh động mạch xơ vữa tắc nghẽn

Bệnh động mạch ngoại biên là bệnh lý tắc nghẽn mạch máu ngoại biên, do các mảng xơ vữa và huyết khối. Bệnh động mạch ngoại biên thường gặp nhất là các tổn thương động mạch vùng tiểu khung, chi dưới và chi trên. Nguyên nhân chính gây bệnh lý động mạch ngoại biên là hẹp tắc do mảng xơ vữa. Lòng mạch bị hẹp lại do lắng đọng mỡ trên thành mạch.

Từ kết quả xét nghiệm và siêu âm, bác T.T.V được chỉ định điều trị bằng can thiệp động mạch chi dưới. Các bác sĩ đưa bóng vào vị trí hẹp tắc. Dùng bơm áp lực để bơm bóng, mở rộng lòng mạch. Sau khi rút bóng, đưa giá đỡ lòng mạch (stent) vào vị trí hẹp – tắc. Sau đó nong tạo hình lòng mạch trong giá đỡ (stent) bằng bóng.

Hình ảnh xơ vữa động mạch
Các bác sĩ tại bệnh viện Đông Đô đang thực hiện ca can thiệp
Mô tả quá trình tạo hình mạch bằng stent

Sau khi can thiệp, bác T.T.V được các bác sĩ căn dặn cần có chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể dục thường xuyên bằng cách đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày.

Theo các bác sĩ bệnh viện Đông Đô việc phát hiện bệnh mạch máu ngoại biên có vai trò rất quan trọng. Ngoài việc giúp điều trị sớm tình trạng thiếu máu chi, trước khi có những biến chứng nặng nề như hoại tử chi, phải cắt cụt chi, người bị bệnh động mạch ngoại biên thường có tình trạng xơ vữa ở các động mạch khác bao gồm cả động mạch cấp máu cho tim và não. Thực tế, bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên có nguy cơ nhồi máu cơ tim hay đột quỵ cao gấp 6 đến 7 lần so với người không có bệnh.

NẾU BẠN CÓ NHỮNG BIỂU HIỆN SAU, HÃY CẨN TRỌNG BỆNH MẠCH VÀNH!

Nếu bạn gặp cơn đau thắt ngực, đau có cảm giác bó chặt, thắt nghẹt, đè ép hay đôi khi chỉ là cảm giác có 1 cái gì đó khó chịu trong lồng ngực. Vị trí đau hay gặp là sau xương ức, giữa ngực hoặc vùng tim. Đau có thể tại chỗ hoặc lan lên cổ, hàm, vai hay cánh tay bên trái, ít trường hợp lan ra sau lưng hay vùng cột sống, hãy cẩn trọng.

Nếu bạn đang gặp cơn đau co thắt ngực, hãy thận trọng!
Nếu bạn đang gặp cơn đau co thắt ngực, hãy thận trọng!

Theo GS.TS Nguyễn Lân Việt, đau thắt ngực do nhiều bệnh trong đó hay gặp nhất là bệnh mạch vành.

GS Việt lưu ý, đau thắt ngực do bệnh tim mạch thường có vị trí đau sau xương ức, tính chất đau thắt lại, có người có cảm giác đè ép lên, đau như d..a..o đâm, thời gian đau kéo dài  vài giây tới vài phút. Hướng lan của cơn đau là đau lan lên mặt trong cánh tay, cẳng tay, xuống tới ngón tay, hoặc cơn đau lan lên cằm hoặc ra sau lưng, có khi lại đau xuống dưới, điều này khiến bệnh nhân dễ nhầm lẫn bị đau dạ dày.  Đặc biệt, nếu cơn đau thắt ngực kéo dài trên 20 phút thì có thể người bệnh đã bị nh.ồ.i m.á.u cơ tim.

Lý do những cơn đau thắt ngực do bệnh mạch vành, GS cho biết, tim được nuôi bởi hệ thống động mạch gọi là hệ thống động mạch vành, khi động mạch vành bị hẹp, bít tắc, lượng máu đến tim kém đi lúc đó người bệnh sẽ xuất hiện các cơn đau thắt ngực.

Nguyên nhân bệnh mạch vành | Bệnh viện Đông Đô
Động mạch vành bị hẹp, bít tắc, lượng máu đến tim kém

GS cho biết, trước đây các bệnh mạch vành gặp rất ít, nhưng hiện nay khi tuổi thọ người dân ngày càng cao, số người mắc căn bệnh này ngày càng nhiều.

Có nhiều yếu tố bùng phát cơn đau thắt ngực như gắng sức, do xúc cảm quá mức (vui mừng, bực tức, buồn rầu quá …) hoặc bị lạnh đột ngột đều là yếu tố thuận lợi xuất hiện các cơn đau thắt ngực, ngoài ra những người có các bệnh mạn tính như rối loạn lipid máu, thừa cân, béo phì hoặc tăng huyết áp….  sẽ làm tăng nguy cơ bị đau thắt ngực.

 Để phòng ngừa, mọi người cần có thói quen khám sức khỏe định kỳ, làm điện tâm đồ, siêu âm tim, đo huyết áp 6 tháng/lần.

Phòng mổ khoa tim mạch và những điều chưa biết

Bạn có biết những thông tin thú vị về phòng mổ mà chưa ai bật mí với bạn?

1.Y phục bác sĩ phẫu thuật vì sao lại màu xanh?

Theo một bài báo trên tạp chí Y tá phẫu thuật ngày nay (Today’s surgical nurse) – năm 1998. Màu xanh lá cây có thể giúp các bác sĩ nhìn rõ hơn vì:

  • Nhìn vào màu xanh lá cây có thể làm mới tầm nhìn của bác sĩ về màu đỏ lưu ảnh trong mắt khi phẫu thuật (quan sát máu liên tục). Theo John Werner, nhà tâm lý học nghiên cứu thị lực tại Đại học California, “thỉnh thoảng nhìn vào thứ gì đó có màu xanh lục có thể khiến mắt ai đó nhạy cảm hơn với các biến thể của màu đỏ”. Do đó, khi mặc áo phẫu thuật màu xanh, mắt của bac sĩ sẽ quan sát khi phẩu thuật tốt hơn so với màu trắng.
  • Khi tập trung quá lâu vào màu đỏ của máu và nội tạng khi mổ, mắt bác sĩ phẫu thuật sẽ dễ bị ảo giác màu xanh lá cây khi nhìn vào các vật dụng màu trắng. Tức ảo ảnh màu xanh lục về phần bên trong màu đỏ của bệnh nhân có thể xuất hiện trên nền trắng. Không tin bạn thử nhìn 1-2h liên tục vô màu đỏ, xong đánh mắt sang màu trắng của áo sơ mi bạn sẽ hiểu điều tôi đang diễn tả. Điều này tương tự như những điểm nổi mà chúng ta nhìn thấy sau đèn flash của máy ảnh.
Vì sao trang phục phẫu thuật của y bác sĩ có màu xanh?

2. Vì sao các bác sĩ phải mặc áo chì bảo hộ?

Tùy tình trạng bệnh nhân, ca mổ bằng tia X kéo dài 1-3 giờ. Suốt thời gian này, kíp mổ không được phép bỏ đồ bảo hộ bởi bức xạ liên tục được sử dụng. Mức bức xạ tiếp xúc với phần thân thể được che chắn của bác sĩ tương đương 2-3 lần chụp X-quang ngực. Ở các khu vực khác, tỷ lệ này tăng lên 100 lần. Không biện pháp nào đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các bác sĩ.

Dưới tác động bức xạ, sức khỏe bác sĩ bị ảnh hưởng không nhỏ. Họ chỉ có khoảng 3.000-4.000 bạch cầu, thấp hơn so với ngưỡng 4.000-10.000 tế bào của người bình thường nên khó chống lại virus và rất dễ nhiễm trùng. Bên cạnh đó, bức xạ đẩy cao nguy cơ biến đổi tế bào dẫn đến dị tật thai nhi

Để đảm bảo an toàn, nhân viên phẫu thuật luôn mặc áo chì chống tia bức xạ nặng 13kg, và luôn chủ động thu nhỏ chùm tia X, sao cho tia chỉ tiếp xúc trực tiếp với bộ phận cơ thể cần khảo sát. Thời gian phát tia X được tính toán ngắn nhất mà vẫn đạt chất lượng chẩn đoán, đồng thời che chắn các bộ phận khác cho bệnh nhân.

Áo chì bảo hộ của nhân viên phòng mổ

3. Thiết kế phòng mổ như thế nào?

Thiết kế các phòng mổ theo hình vuông, chữ nhật để dễ dàng bố trí dây truyền công năng và trang thiết bị nội thất. Không gian phòng mổ càng ít góc cạnh chừng nào thì lại càng đảm bảo vệ sinh vô trùng chừng ấy vì các thiết bị trong phòng mổ rất nhiều: bàn mổ, máy gây mê, giúp thở và các thiết bị phụ trợ khác cho nên cần phải đủ rộng rãi để đôi lúc cần thiết thì sẽ đưa vào thêm được các thiết bị khác như C-Arm. Nguyên tắc thiết kế một chiều cần quan tâm bố trí 2 cửa cho phòng mổ: một cửa chính để đẩy băng ca và cửa phụ. Ở bốn góc của phòng mổ nên thiết kế dạng vát 45o, mục đích để bảo đảm lưu thông không khí trong phòng, tránh góc khí quẩn.

Cơ sở vật chất hiện đại của trung tâm tim mạch can thiệp bệnh viện Đông Đô
Trong khu vực phòng mổ luôn phải có hệ thống liên lạc nội bộ với các thiết bị tối ưu nhất
Trung tâm tim mạch can thiệp Đông Đô với những thiết bị tối tân

Thiết kế hệ thống điện cũng có những điểm khác biệt, sử dụng nhiều thiết bị điện chuyên dụng ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng bệnh nhân. Điện chiếu sáng phải tách riêng với điện động lực sử dụng cho thiết bị. Một số thiết bị cần sử dụng điện một chiều như đèn đọc phim Xquang, đồng hồ mổ, máy Xquang lại cần nguồn 3 pha. Đặc biệt, hệ thống điện trong phòng mổ phải được cung cấp liên tục, luôn có nguồn điện dự phòng và có hệ thống nối đất riêng.

Trong khu vực phòng mổ luôn phải có hệ thống liên lạc nội bộ với các thiết bị tối ưu nhất. Hệ thống này nên nối trực tiếp đến bộ phận quản lý, trực khu vực khoa phẫu thuật, gây mê hồi sức, hệ thống camera quan sát ca mổ có thể truyền hình trực tiếp đến phòng hội chẩn trong hay ngoài nước. Hệ thống điện thoại liên lạc nội bộ bao gồm một hay nhiều thiết bị thu hình kết nối đồng bộ và ổn định đến một hay nhiều các thiết bị đầu cuối khác. Bố trí camera cần đặt tại góc trần của phòng mổ.

 

 

Cúm A có nguy hiểm không?

Bệnh cúm A là căn bệnh phổ biến, nguy hiểm đối với người lớn và trẻ em, đặc biệt dễ lây lan. Các chủng virus cúm A có khả năng tồn tại lâu trong môi trường bên ngoài, có thể sống lên đến 48h trên các bề mặt như tay nắm cửa, bản, ghế, tủ,… Virus có khả năng tồn tại trong quần áo lên đến 12 giờ, duy trì 5 phút trong lòng bàn tay.

Bệnh cúm A ở người có triệu chứng từ nhẹ đến nặng, khác nhau tùy theo tình trạng sức khỏe của từng người. Các triệu chứng khi nhiễm virus cúm A có một số điểm tương đồng với khi nhiễm chủng virus cúm thường. Nếu không được điều trị đúng cách, một số đối tượng như người già, trẻ em, người có hệ miễn dịch suy yếu sẽ dễ dàng mắc thêm các bệnh khác hoặc gặp các biến chứng nặng dẫn đến nguy cơ đe dọa tính mạng.

Biến chứng nặng nhất khi mắc bệnh cúm A là suy hô hấp, với triệu chứng khó thở, thở gấp, đờm có lẫn máu,… dẫn đến viêm phổi, thiếu oxy và thậm chí là tử vong. Do đó ngay khi có các yếu tố dịch tễ như sốt, triệu chứng viêm long đường hô hấp, bệnh nhân cần đến cơ sở y tế gần nhất để xét nghiệm và chẩn đoán xác định mắc chủng virus cúm nào để có kế hoạch điều trị phù hợp.

Lưu ý gì khi con mắc cúm A/ Bệnh viện Đông Đô
Trẻ bị cúm A có nguy hiểm không?

Cúm A ở trẻ em

Trẻ nhỏ là đối tượng dễ mắc cúm và nguy cơ cao gặp các biến chứng cúm do hệ miễn dịch còn chưa phát triển toàn diện. Đặc biệt, ở những trẻ có bệnh nền như hen suyễn, có bất thường về thần kinh, trẻ có bệnh mãn tính, tim mạch, bệnh về máu, nội tiết, thận, gan hoặc bệnh lý rối loạn chuyển hóa, thừa cân, sử dụng corticoid, aspirin hoặc hóa trị liệu kéo dài, trẻ nhiễm HIV thường có nguy cơ gặp những biến chứng cao hơn so với những đứa trẻ bình thường.

Trẻ bị cúm A có nguy hiểm không?
Cần quan sát những triệu chứng khi con bị cúm A

Một số biến chứng có thể xảy ra khi trẻ mắc cúm A gồm: suy hô hấp, viêm tai giữa, viêm phổi, viêm thanh khí phế quản, viêm màng não, viêm cơ tim, nhiễm khuẩn thứ phát,… Những biến chứng do cúm A gây ra nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời có thể ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển sau này của bản thân đứa trẻ.

Ba mẹ cần chú ý 4 dấu hiệu cúm A trở nặng sau đây để có thể kịp thời đưa trẻ đến bệnh viện:

  • Sốt cao từ 39 độ trở lên, không đáp ứng thuốc hạ sốt;
  • Trẻ li bì, mệt mỏi, kém ăn, bỏ ăn, nôn trớ, chân tay lạnh;
  • Co giật;
  • Khó thở, thở nhanh.

Đa phần các bệnh nhân mắc cúm A có thể khỏi sau khoảng 7-10 ngày nếu điều trị đúng cách. Hầu hết các trường hợp được chỉ định điều trị tại chỗ, chỉ có một số ít bệnh nhân diễn biến nặng phải được điều trị và cấp cứu kịp thời tại các cơ sở y tế.

Theo mức độ diễn tiến của bệnh, điều trị cúm A có các phương pháp sau:

Điều trị cúm A tại nhà

Với những bệnh nhân mắc cúm A, các triệu chứng ở mức độ nhẹ, không biến chứng có thể được chăm sóc và điều trị tại nhà.

Nghỉ ngơi hợp lý kết hợp cùng ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa.

Uống nhiều nước và hạn chế ăn uống các thực phẩm lạnh.

Chỉ sử dụng thuốc hạ sốt theo chỉ định của bác sĩ điều trị.

Hạn chế đến những nơi đông hoặc tiếp xúc với nhiều người, nếu có phải sử dụng khẩu trang y tế.

Trong trường hợp, sau khoảng 7 ngày các triệu chứng không thuyên giảm mà tiến triển nặng hơn, người bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế để được xử lý kịp thời.

SUY GIÃN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI LÀ GÌ?

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là hiện tượng hệ thống tĩnh mạch chi dưới bị suy giảm chức năng gây ra tình trạng ứ đọng máu. Đồng thời, các tổ chức lân cận mô cũng bị biến dạng và huyết động bị biến đổi.

Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy, giãn tĩnh mạch chi dưới thường gặp ở khoảng 35% người đang làm việc, khoảng 50% người đã nghỉ hưu, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao gấp 3 lần nam giới.

Bệnh lý này có thể xảy ra ở bất kỳ đối tượng nào, thường dễ bắt gặp ở những người thường xuyên phải đứng lâu do tính chất nghề nghiệp, khả năng mắc bệnh ở nữ giới thường cao gấp 3 lần so với nam giới.

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới  bệnh viện Đông Đô
Hiện tượng hệ thống tĩnh mạch chi dưới bị suy giảm chức năng gây ra tình trạng ứ đọng máu

Nguyên nhân gây bệnh

  • do tình trạng suy các van tĩnh mạch, một số trường hợp có thể kèm theo tắc tĩnh mạch. Khiến cho quá trình vận chuyển máu từ chân về tim bị cản trở hoặc gián đoạn và gây ứ trệ tuần hoàn. Bên cạnh đó, tĩnh mạch cũng ngày một giãn to ra.
  • Bệnh nhân từng trải qua một số chấn thương khiến cho van tĩnh mạch bị tổn thương.

Suy Giãn Tĩnh Mạch - Bệnh Viện FV

Triệu chứng thường gặp ở giai đoạn đầu:

– phù chân (nhiều hơn vào cuối ngày).

– hai chân căng tức và nặng nề, bắp chân đau nhức, xuất hiện cảm giác tê rần.

– Về đêm, đôi khi chân bị chuột rút hoặc vọp bẻ.

=> Tình trạng suy giãn tĩnh mạch chi dưới vẫn có thể đáp ứng điều trị hiệu quả nếu bệnh nhân phát hiện sớm, tình trạng bệnh còn nhẹ và chưa có bất kì biến chứng nào.

Vào giai đoạn tiến triển, chân người bệnh bắt đầu có biểu hiện phù ở mắt cá hay bàn chân. Vùng cẳng chân xuất hiện thay đổi màu sắc da, biểu hiện của loạn dưỡng do máu tĩnh mạch ứ lâu ngày. Các tĩnh mạch căng giãn gây cảm giác đau tức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân. Hiện tượng này không mất đi khi nghỉ ngơi, trường hợp nặng hơn có thể thấy các búi tĩnh mạch nổi to rõ trên da thường xuyên, các mảng máu bầm trên da…

Khi giãn tĩnh mạch bước vào giai đoạn biến chứng, tĩnh mạch nông giãn to thành búi, bị viêm tạo huyết khối trong lòng. Kết hợp với tình trạng loét do thiểu dưỡng có thể tạo nên những ổ loét, nhiễm trùng…

Với những trường hợp phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, bác sĩ thường lựa chọn các phương pháp điều trị ngoại khoa có xâm lấn để chữa trị cho bệnh nhân.

Chẩn đoán giãn tĩnh mạch chi dưới

  • Khám lâm sàng: Suy giãn tĩnh mạch có thể được chẩn đoán qua khai thác yếu tố nguy cơ, các triệu chứng của người bệnh. Ở người bệnh có mô dưới da mỏng, có thể nhìn và sờ thấy tĩnh mạch giãn ra và căng nhanh khi chuyển từ tư thế nằm sang đứng.
  • Siêu âm Doppler mạch máu: Siêu âm xác định chẩn đoán khi ghi nhận dòng trào ngược qua van tĩnh mạch với thời gian kéo dài >0.5 giây ở tĩnh mạch hiển và tĩnh mạch sâu ở cẳng chân hoặc >0.1 giây ở tĩnh mạch đùi khoeo. Siêu âm có thể xác định tổn thương của van tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé, tĩnh mạch sâu và các van tĩnh mạch xuyên để giúp lựa chọn kỹ thuật điều trị phù hợp.

Thay đổi những thói quen trong sinh hoạt cũng như quá trình làm việc:

  • Hạn chế việc nằm, ngồi hoặc đứng quá lâu trong một tư thế.
  • Nên lựa chọn những trang phục quần áo rộng rãi, không gây bó sát vào cơ thể.
  • Xây dựng và duy trì chế độ ăn uống lành mạnh bằng cách bổ sung thêm các chất dinh dưỡng như vitamin C và chất xơ

MỘT NGÀY LÀM VIỆC “KÍN LỊCH” TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ

Bệnh viện Đông Đô, tuy quy mô chưa lớn nhất Hà Nội nhưng số lượng bệnh nhân đến thăm khám ngày càng đông. Mặc dù, bệnh viện Đông Đô luôn kéo dài thời gian khám chữa bệnh hàng ngày và cả thứ 7 và chủ nhật.

Được phát triển theo mô hình Bệnh viện 5*, có quy mô lớn với 10 tầng, thực hiện khám, điều trị các chuyên khoa như: Nội, Ngoại, Nội tiết, Tim mạch, Hỗ trợ sinh sản, …hội tụ hơn nhiều chuyên gia đầu ngành giỏi chuyên môn, dày kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, đã và đang làm việc tại các bệnh viện lớn.

Với hệ thống trang thiết bị hiện đại, không gian khang trang, sạch sẽ, phòng nội trú đầy đủ tiện nghi cùng dịch vụ thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm bảo lãnh chuyên nghiệp, Bệnh viện Đông Đô là một trong những bệnh viện khám chữa bệnh tốt, uy tín được người dân Hà Nội và các tỉnh lân cận tin tưởng lựa chọn.

Một số hình ảnh tại bệnh viện.

Bệnh viện Đông Đô nơi thăm khám uy tín bậc nhất Hà Nội
Không gian tầng 1
Tầng 3 khoa khám bệnh luôn tấp nập người đến kiểm tra sức khoẻ
IVF Hỗ trợ sinh sản Đông Đô là một trong những cơ sở uy tín bậc nhất
Tầng 8 khoa Mắt được thiết kế như không gian khách sạn
Lượng khách đến thăm khám mỗi sáng