Tag Archives: Chuyên khoa nổi bật

Lo lắng căng thẳng có ảnh hưởng đến tim mạch không?

Lo lắng có nhiều tác động xấu tới bệnh lý tim mạch.
Các lo lắng, căng thẳng cấp tính có thể gây ra tắc cấp tính động mạch như động mạch vành. Các lo lắng, căng thẳng kéo dài có thể làm tăng huyết áp. Các lo lắng về tâm lý, tình cảm làm mất tính ổn định điện của tim từ đó có thể gây ra rối loạn nhịp tim và ngừng tim.

Tuy nhiên có một điều thú vị là, các lo lắng căng thẳng lại tác động khác nhau tới mỗi người, ở người này các lo lắng căng thẳng gây ra tình trạng chán nản, đau đớn nhưng với một số người khác, các căng thẳng lo lắng làm cho họ càng thêm hăng hái. Để kiểm soát được các lo lắng, căng thẳng, bước đầu tiên, bạn cần biết nguyên nhân gây ra nó sau đó bạn sẽ học cách để đối phó với nó.

Kinh nghiệm để vượt qua các lo lắng, căng thẳng:
 Hãy giữ cho cuộc sống của bạn cân bằng
 Hãy học cách chấp nhận những việc bạn không thể làm được
 Hãy học cách nói “không” khi cần thiết

Ngưng tim đột ngột: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán

Ngưng tim đột ngột là tình trạng mất đột ngột chức năng của tim, hô hấp và ý thức. Tình trạng này thường xảy ra do rối loạn điện học trong tim. Hiện tượng ngưng tim làm gián đoạn hoạt động bơm của tim, làm ngưng dòng chảy của máu trong cơ thể. 

Ngưng tim đột ngột có những dấu hiệu và triệu chứng cần phát hiện tức thời, bao gồm:

  • Ngất đột ngột
  • Không có nhịp mạch, nhịp tim
  • Ngưng thở
  • Mất ý thức

Đôi khi xảy ra những dấu hiệu và triệu chứng ngưng tim đột ngột khác trong bệnh này. Chúng có thể bao gồm:

  • Khó chịu ở ngực
  • Khó thở
  • Mệt mỏi
  • Đánh trống ngực

Nhưng ngưng tim đột ngột vẫn thường xảy ra mà không có triệu chứng báo trước.

Rối loạn về nhịp tim – kết quả của rối loạn về hệ thống điện bên trong tim – là nguyên nhân thường gặp trong ngưng tim đột ngột.

Hệ thống điện bên trong tim kiểm soát tần số và nhịp tim. Nếu có gì đó hoạt động không đúng, tim bạn có thể đập rất nhanh, rất chậm hoặc không đều. Thông thường những rối loạn nhịp tim như vậy diễn ra nhanh chóng và vô hại, nhưng một số loại có thể dẫn đến ngưng tim đột ngột.

Loại nhịp tim thường gặp nhất vào thời điểm ngưng tim là rối loạn nhịp ở buồng thấp của tim (Tâm thất). Các xung điện nhanh và thất thường khiến tâm thất co bóp một cách vô ích và thiếu hiệu quả (Rung thất).

Khi ngưng tim đột ngột xảy ra, lượng máu chảy lên não giảm gây bất tỉnh. Nếu nhịp tim của bạn không nhanh chóng trở lại bình thường, tổn thương não xảy ra và gây tử vong. Những người sống sót sau ngưng tim có thể có dấu hiệu tổn thương não.

Nếu bạn có thể sống sót sau cơn ngưng tim đột ngột, bác sĩ của bạn có thể sẽ tiến hành thăm khám để tìm nguyên nhân. Từ đó, có thể ngăn ngừa các cơn ngưng tim tiếp theo diễn ra trong tương lai. Bác sĩ có thể sẽ cho bạn làm một số xét nghiệm sau:

  • Điện tâm đồ (ECG)

Trong quá trình thực hiện ECG, các điện cực được gắn tại ngực và tứ chi sẽ phát hiện các hoạt động điện tim. Xét nghiệm ECG có thể phát hiện những rối loạn về nhịp hoặc phát hiện bất thường về hình thái điện tim, ví dụ như khoảng QT dài, làm tăng nguy cơ đột tử.

  • Xét nghiệm máu

Mẫu máu của bạn sẽ được dùng để kiểm tra nồng độ các chất bên trong. Chẳng hạn như: Nồng độ Kali, nồng độ magie, hóc môn và các chất hoá học khác có thể tác động lên chức năng của tim. Những xét nghiệm máu khác có thể phát hiện tổn thương tim và đau tim gần đây

  • Xét nghiệm hình ảnh

Những xét nghiệm hình ảnh có thể được chỉ định, bao gồm:

  • X-Quang ngực thẳng: xét nghiệm này giúp cho bác sĩ kiểm tra kích thước, hình dạng của tim và mạch máu. Ngoài ra nó cũng có thể cho thấy bệnh nhân có bị suy tim hay không
  • Siêu âm tim: Bằng xét nghiệm này, việc sử dụng sóng siêu âm giúp tái tạo hình ảnh của tim. Xét nghiệm có thể hướng dẫn định khu vị trí của tim bị tổn thương do đau tim và không bơm đủ máu hoặc có những vấn đề rối loạn về van tim.
  • Xét nghiệm hạt nhân: Đây là xét nghiệm thường thực hiện với một bài kiểm tra gắng sức, giúp xác định được các vấn đề về lưu lượng máu chảy trong tim. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu của bạn. Thiết bị có thể phát hiện chất phóng xạ khi nó chảy qua tim và phổi của bạn.
  • Thông tim (chụp động mạch vành): Khi thực hiện thủ thuật này, một loại thuốc cản quang sẽ được tiêm vào trong động mạch của tim thông qua một loại ống dài và mỏng (ống thông). Khi thuốc cản quang này lắp đầy bên trong động mạch thì và  những động mạch này sẽ nhìn thấy được trên X-quang và băng video, cho thấy các khu vực bị tắc nghẽn.

Cần làm gì để có một trái tim khỏe mạnh?

Sống một lối sống lành mạnh cho trái tim của bạn bằng những hành động:

  • Không hút thuốc lá
  • Đạt được và duy trì trọng lượng ở mức được khuyến cáo
  • Nếu bạn uống rượu, hãy uống một cách điều độ – Không quá một ly mỗi ngày đối với phụ nữ và nam giới trên 65 tuổi, và không quá hai ly mỗi ngày đối với nam giới trẻ tuổi
  • Duy trì hoạt động thể chất
  • Kiểm soát những căng thẳng trong cuộc sống, giữ cho tinh thần được thoải mái

Nếu bạn đang có những triệu chứng vừa nêu trên hoặc đang mắc bệnh tim, hãy chăm sóc bản thân bằng cách theo dõi sức khỏe định kỳ. Hi vọng qua bài viết của ThS.BS Vũ Thành Đô đã giúp các bạn nắm được những thông tin về bệnh ngưng tim đột ngột. Đồng thời, hiểu đúng về nhóm đối tượng nguy cơ để có thể lên chiến lược bảo vệ sức khỏe cho gia đình và chính bản thân.

Nhận biết các giai đoạn tiến triển của bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây nên. Vi rút Dengue có 4 týp thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu. Bệnh xảy ra quanh năm, thƣờng gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.

Sốt xuất huyết “cơn ác mộng” khi vào mùa
Sốt xuất huyết “cơn ác mộng” khi vào mùa

Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục.

Giai đoạn sốt 

Lâm sàng 

  • Sốt cao đột ngột, liên tục.
  • Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn.
  • Da xung huyết.
  • Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.
  • Nghiệm pháp dây thắt dương tính.
  • Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam.

Cận lâm sàng

  • Dung tích hồng cầu (Hematocrit) bình thường.
  • Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100.000/mm3 ).
  • Số lượng bạch cầu thường giảm.

Giai đoạn tiến triển của bệnh sốt xuất huyết:

Thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh

Lâm sàng 

a) Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt.

b) Có thể có các biểu hiện sau:

– Biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ):

+ Tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau.

+ Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg), tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít.

– Xuất huyết:

+ Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím.

+ Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn.

+ Xuất huyết nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng.

c) Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc.

Cận lâm sàng 

  •  Hematocrit tăng so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc so với giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi.
  • Số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm3 (<100 G/L).
  • Enzym AST, ALT thường tăng.
  • Trong trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu.
  • Siêu âm hoặc xquang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi.

Giai đoạn hồi phục bệnh sốt xuất huyết

Lâm sàng 

  • Sau 24-48 giờ của giai đoạn nguy hiểm, có hiện tượng tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch.
  • Giai đoạn này kéo dài 48-72 giờ.
  • Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều.
  • Có thể có nhịp tim chậm và thay đổi về điện tâm đồ.
  • Trong giai đoạn này, nếu truyền dịch quá mức có thể gây ra phù phổi hoặc suy tim.

Cận lâm sàng 

  • Hematocrit trở về bình thƣờng hoặc có thể thấp hơn do hiện tƣợng pha loãng máu khi dịch đƣợc tái hấp thu trở lại.
  • Số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt.
  • Số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, muộn hơn so với số lượng bạch cầu.

 Phòng bệnh 

  •  Thực hiện công tác giám sát, phòng chống sốt xuất huyết Dengue theo quy định của Bộ Y tế.
  •  Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh.
  •  Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là kiểm soát côn trùng trung gian truyền bệnh như tránh muỗi đốt, diệt bọ gậy (loăng quăng), diệt muỗi trưởng thành, vệ sinh môi trường loại bỏ ổ chứa nước đọng.

Tài liệu tham khảo

Bộ Y Tế “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em”. Sốt xuất huyết, 2015, trang 505.

Cần làm gì khi mắc Cúm B ?

Thời tiết giao mùa, nhiệt độ thay đổi thất thường là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, virus gây bệnh cúm mùa phát triển trong đó có cúm B. Cúm B là chủng cúm phổ biến, so với cúm A thì cúm B ít nguy hiểm hơn. Ở cúm B chỉ gặp ở người, loại virus gây cúm B rất lành tính, đa phần người bệnh có thể khỏi sau vài ngày nghỉ ngơi… Vì vậy loại virus gây cúm B không gây ra đại dịch cúm ở người.

Triệu chứng mắc Cúm B

– Khi mắc cúm B các biểu hiện ban đầu thường nhầm lẫn với bệnh lý cảm cúm thông thường nhưng ở mức độ nghiêm trọng hơn. Khi mắc cúm B người bệnh có thể sốt nóng hoặc rét run, thường sốt cao với nhiệt độ khoảng 39-41độ C ở những ngày đầu phát bệnh. Tùy từng bệnh nhân sốt có thể kéo dài đến 5 ngày. Ngoài ra bệnh nhân sẽ bị ho, đau mỏi cơ, đổ mồ hôi có thể kéo dài vài ngày hoặc vài tuần. Người bệnh ho, mệt mỏi kéo dài đến 2 tuần hoặc lâu hơn nên việc này gây cảm giác khó chịu cho người bệnh.

– Một số dấu hiệu cảnh báo cúm B nguy hiểm, cần nhập viện để được điều trị kịp thời: Các biểu hiện ở người lớn là khó thở, thở gấp, sốt cao trên 39 độ C kéo dài, đau tức ngực, chóng mặt, tiêu chảy kéo dài, nôn ói nhiều… Ở trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh có biểu hiện khó thở, thở gấp, bỏ ăn, ngủ nhiều, da xanh tái, sốt kèm phát ban hoặc sốt cao trên 38.5, độ C kéo dài, nôn mửa nhiều… Nếu ở người cao tuổi, người mắc bệnh lý mạn tính, người suy giảm miễn dịch khi mắc cúm B cũng có thể xảy ra biến chứng nặng nếu khi được điều trị kịp thời.

Cần làm gì khi mắc cúm B?

Cũng giống như các loại cúm virus cúm B chưa có thuốc đặc trị mà chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng ví như hạ sốt, giảm ho,.. và cần kết hợp nâng cao thể lực, tăng sức đề kháng cơ thể.

– Nguyên tắc điều trị tùy từng người bệnh mà các bác sĩ sẽ chỉ định các loại thuốc như: hạ sốt giảm đau, hạ sốt hoặc có biểu hiện bội nhiễm thì chỉ định thuốc điều trị.

– Khi mắc cúm cần theo dõi nhiệt độ cơ thể thường xuyên, không tiếp xúc với người khác ở nơi công cộng. Tại nhà cũng phải đeo khẩu trang, tăng cường rửa tay, vệ sinh đường hô hấp bằng cách xúc miệng, nhỏ mũi thường xuyên. Không ho khạc, nhổ bừa bãi. Cần chú ý bổ sung dinh dưỡng đầy đủ để tăng cường sức khỏe.

Những trường hợp thăm khám tại viện nếu bác sĩ thấy có bằng chứng bội nhiễm cần phải sử dụng kháng sinh. Hoặc trong trường hợp tiến triển nặng cần sử dụng thuốc kháng virus trên cơ địa từng bệnh nhân sẽ được bác sĩ chỉ định thích hợp, tuyệt đối không tùy tiện tự ý sử dụng thuốc.

– Người bệnh cần nghỉ ngơi nhiều hơn, giữ không gian sống sạch sẽ, thoáng mát. Cần uống nhiều nước, chia nhỏ các bữa ăn trong ngày, chú ý đến bổ sung các loại khoáng chất, vitamin giúp tăng đề kháng, tăng miễn dịch và ngăn ngừa biến chứng do virus.

– Để phòng ngừa cúm trong đó có cúm B cần tiêm vaccin để bảo vệ cơ thể. Với khuyến cáo tất cả mọi người, nhất là trẻ nhỏ, người cao tuổi, người có bệnh lý nền nên tiêm phòng cúm hàng năm để tự bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng. Điều này giúp giảm nhẹ hơn các triệu chứng, giảm nguy cơ các biến chứng nặng và thời gian bị bệnh ngắn hơn so với người chưa tiêm vaccine phòng bệnh.

Gánh nặng Bệnh lý tim mạch!

Bệnh tim mạch hiện đã trở thành nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu. Hằng năm có khoảng 17,9 triệu người chết do bệnh tim mạch, chiếm 31% tổng số tử vong, trong đó có tới 85% chết do nguyên nhân bệnh động mạch vành hoặc đột quỵ não.

Có 75% số tử vong do tim mạch xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình thấp.

Có đến 17 triệu người dưới 70 tuổi chết liên quan đến bệnh không lây nhiễm, trong đó có 82% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình – thấp và 37% là do nguyên nhân bệnh tim mạch.

Hầu hết các bệnh tim mạch hiện nay có thể phòng ngừa được một cách hiệu quả thông qua việc điều chỉnh lối sống có hại cho sức khỏe như bỏ hút thuốc lá, chế độ ăn lành mạnh, tăng cường tập luyện thể lực và không lạm dụng rượu bia.

Người đã bị bệnh tim mạch hoặc nguy cơ cao bị bệnh tim mạch (khi có các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid) cần được đánh giá sớm và thực hiện các biện pháp phòng bệnh và dùng thuốc phù hợp.

Bệnh động mạch vành đã chiếm tới 14% tử vong toàn cầu và là nguyên nhân chính làm giảm số năm sống còn và số năm sống trong bệnh tật hiệu chỉnh. Nguyên nhân thứ hai dẫn tới tử vong là đột quỵ não chiếm tới 11,1% .  Đáng chú ý, đột quỵ não có xu hướng gia tăng mạnh ở các nước có thu nhập thấp – trung bình. Theo ước tính của WHO, đến năm 2030, tổng số tử vong do đột quỵ não tăng lên đến 30% và chủ yếu ở các nước thu nhập thấp trung bình.

Theo Hiệp Hội Tim mạch Việt Nam, nước ta có khoảng 25% dân số mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp. Bệnh lý tăng huyết áp ngày càng có dấu hiệu gia tăng ở nhóm người trẻ, trong độ tuổi lao động (khoảng 47% số người > 25 tuổi).

Dù chưa có thống kê đầy đủ, nhưng thực tế cho thấy bệnh tim mạch gia tăng hàng năm rất nhanh: Những năm 1980 có khoảng 10% bệnh nhân bị bệnh huyết áp, đến năm 2009 đã là 27%. 10 năm trước, mỗi năm Viện Tim Mạch Quốc gia chỉ can thiệp khoảng 300 ca bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, nhưng năm 2016 đã can thiệp khoảng 3.500 ca/ năm, cho thấy tốc độ gia tăng gấp hơn 10 lần chỉ trong 10 năm.

Trước đây, bệnh mạch vành, động mạch não, bệnh động mạch ngoại biên… thường gặp ở người cao tuổi, nhưng nay có ở bất kỳ lứa tuổi nào. Gần đây, Trung tâm can thiệp Tim mạch BV Đông Đô cũng đã tiếp nhận những bệnh nhân bị suy tim ở lứa tuổi 30 – 40.

Nhưng có khoảng 80% các biến cố tim mạch có thể phòng ngừa nếu ta tầm soát sớm, kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và đến cơ sở y tế kịp thời

Theo GS. Nguyễn Lân Việt, chủ động phòng ngừa bệnh tim mạch là cần thiết nhất với việc duy trì lối sống lành mạnh để hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ về tim mạch.

Hãy kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng/ lần và làm một số xét nghiệm cơ bản như điện tâm đồ, siêu âm tim, sinh hóa máu… để phát hiện sớm bệnh.

Khi mắc bệnh hay các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, cần điều trị tích cực để hạn chế tối đa các biến chứng.​

Khám mổ mắt miễn phí cho trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn

Với mong muốn mang lại đôi mắt sáng cho các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn, trong ba ngày 16,17,18 tháng 9 năm 2022, Bệnh viện Đông Đô phối hợp Tỉnh đoàn Bắc Kạn tổ chức chương trình khám và phẫu thuật mắt miễn phí cho thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Tham gia chương trình các em thiếu nhi được hỗ trợ kinh phí di chuyển, chỗ nghỉ tại tỉnh đối với một số gia đình ở xa, được tài trợ toàn bộ kinh phí ăn nghỉ, khám, phẫu thuật, viện phí tại Bệnh viện Đông Đô Hà Nội. Đội ngũ y bác sỹ chuyên khoa mắt đã khám sàng lọc, tư vấn, phát thuốc cho 08 thiếu nhi bị khuyết tật mắt, 04 thiếu nhi được các bác sỹ phẫu thuật các bệnh về mắt: em Nguyễn Công Nguyên, trường THCS Đồng Tâm, huyện Chợ Mới; em Dương Bích Diệp, trường Tiểu học Như Cố, huyện Chợ Mới, em Hoàng Thị Hoài Nhi, điểm trường Lũng Noong (trường Tiểu học Nam Cường), huyện Chợ Đồn, em Hoàng Quỳnh Chi, trường Tiểu học Dương Quang, Thành phố Bắc Kạn với tổng trị giá trên 80 triệu đồng.

 

Đây là chương trình thiết thực và ý nghĩa nhằm chia sẻ với gia đình và các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn không may bị khuyết tật về mắt có cơ hội phục hồi thị lực, tìm lại sự tự tin, niềm vui, động lực vươn lên trong học tập và cuộc sống.