Tag Archives: Phẫu thuật tim mạch

Các biện pháp khắc phục tại nhà cho chứng suy giãn tĩnh mạch chân

Suy giãn tĩnh mạch chân có thể gây biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, suy giãn tĩnh mạch có thể được phòng ngừa bằng các biện pháp đơn giản tại nhà, ngay từ khi bệnh ở giai đoạn đầu.

Các biện pháp khắc phục tại nhà cho chứng suy giãn tĩnh mạch chân

1. Tập thể dục

Các hoạt động thể chất giúp quá trình lưu thông máu tốt hơn, có tác dụng hỗ trợ các tĩnh mạch ở chân đẩy máu trở lại tim. Từ đó, có thể làm giảm đáng kể nguy cơ phát triển chứng suy giãn tĩnh mạch chân.

Tập thể dục
Tập thể dục

2. Tránh mặc quần áo bó sát

Quần áo bó sát có thể cản trở quá trình lưu thông máu, có hại cho sức khỏe và làm tăng nguy cơ bị suy giãn tĩnh mạch chân.

3. Sử dụng tất y khoa trị suy giãn tĩnh mạch chân

Đây là những loại tất được chế tạo đặc biệt chỉ tạo áp lực lên chân và giảm tụ máu. Mặc dù nên tránh mặc quần áo bó sát, nhưng sử dụng tất y khoa vẫn an toàn và hiệu quả để giúp giảm đau và khó chịu do suy giãn tĩnh mạch.

Tất y khoa
Tất y khoa hỗ trợ điều trị suy giãn tĩnh mạch chân

4 .Về chế độ ăn uống

Nên tránh ăn quá nhiều muối vì nó có thể góp phần làm tăng huyết áp, do đó có thể ảnh hưởng đến tất cả các mạch máu trong cơ thể.

Bên cạnh đó, cần tăng cường thực phẩm chứa kali, do kali giúp hạn chế khả năng giữ nước và giảm tác dụng của natri. Bạn có thể tăng lượng kali bằng cách tăng cường các thực phẩm như: Hạnh nhân, khoai tây, rau lá xanh và cá hồi… vào chế độ ăn uống.

Ngoài ra, các loại thực phẩm giàu flavonoid như bắp cải đỏ, trà, sô cô la đen và trái cây họ cam quýt… có thể góp phần làm cho máu lưu thông máu tốt hơn, giảm huyết áp trong động mạch và làm giãn thành mạch máu, giảm suy giãn tĩnh mạch chân.

5. Tránh đi giày cao gót

Đi giày cao gót thường xuyên, thời gian dài gây áp lực lên chân, dễ dẫn đến tình trạng suy giãn tĩnh mạch chân. Do đó, nên tránh đi giày cao gót và nên thay bằng loại giày dép thoải mái, gót thấp để tốt cho tĩnh mạch và cơ bắp chân.

6. Bài tập nâng cao chân

Cách thực hiện: Gác chân lên gối cao khi nằm trên giường hoặc gác chân lên tường trong 10-15 phút sau khi tập thể dục hoặc đi bộ nhanh. Bài tập này có thể làm giảm áp lực của trọng lực lên các mạch máu và hỗ trợ lưu thông máu tốt hơn.

7. Xoa bóp

Xoa bóp nhẹ nhàng và đều đặn phần bắp chân, cẳng chân… hỗ trợ máu lưu thông qua các tĩnh mạch tốt hơn. Bạn có thể sử dụng dầu xoa bóp để xoa bóp hiệu quả.

Chú ý, không ấn trực tiếp lên tĩnh mạch, vì có thể dẫn đến tổn thương và gây ra các biến chứng nặng hơn.

Can thiệp tổn thương thân chung Động mạch vành

Cô K. Natalia (70 tuổi) sau 1 thời gian chịu đựng cơn đau ngực trái, đã đi thăm khám 1 vài nơi không hiệu quả. Cô được tư vấn giới thiệu đến Trung tâm Tim mạch bệnh viện Đông Đô để thăm khám và điều trị.
Dựa trên tiền sử bệnh, các kết quả xét nghiệm, điện tâm đồ… bác sĩ chẩn đoán cô bị cơn đau thắt ngực không ổn định, bệnh tăng huyết áp vô căn, rối loạn chuyển hóa sphingolipid và rối loạn tích lũy lipid.
Để đánh giá mức độ tổn thương và có chiến lược can thiệp đúng đắn và hiệu quả, các bác sĩ Trung tâm tim mạch bệnh viện Đông Đô đã tiến hành chụp động mạch vành qua da, phát hiện tổn thương nặng thân chung (LM) và LAD. Do chi phối 1 vùng cơ tim rộng lớn, tổn thương tại thân chung mạch vành có tỉ lệ biến cố và tỉ lệ t.ử v. o. n. g cao. Tổn thương tại vị trí thân chung xuất hiện trong khoảng 3-5% ở những bệnh nhân khi chụp mạch vành qua da.

Theo các bác sĩ, với trường hợp của cô có 2 phương án để chữa trị, hoặc là tiến hành mổ làm cầu nối, hoặc can thiệp đặt stent hình chữ Y. Đây là 1 ca can thiệp khó, có tỉ lệ rủi ro nhất định. Nhưng khi được bác sĩ tư vấn và giải thích cụ thể, cô và người nhà đặt trọn niềm tin , sự quyết tâm vào các bác sĩ, và lựa chọn phương pháp can thiệp mạch vành qua da thông qua động mạch chủ ở đùi. Vài năm gần đây, sự tiến bộ đáng kể của can thiệp tim mạch cùng sự ra đời của các loại stent thế hệ mới, phát triển nhiều kỹ thuật can thiệp nâng cao nên can thiệp trở thành lựa chọn ưu tiên ở những người bệnh có tổn thương LM.
Ca can thiệp diễn ra trong vòng 1 giờ đồng hồ, cô hoàn toàn tỉnh táo trong suốt quá trình diễn ra. Cả người nhà và người bệnh tuy lo lắng nhưng luôn tin vào tay nghề, kỹ năng và chất lượng nền y tế Việt Nam.
Sau ca can thiệp diễn ra tốt đẹp, cô Natalia đã không còn cảm thấy những cơn đau ở ngực nữa. Hiện tại, cô đang dần tốt lên.
Cô Natalia cho biết “cô lựa chọn bệnh viện Đông Đô bởi chất lượng phục vụ ở đây rất tốt, sạch sẽ, tất cả đều rất hoàn hảo, y bác sĩ rất chú ý đến chăm sóc cô. Cô cảm ơn bệnh viện bởi với bệnh tình của cô được tiếp nhận và điều trị nhanh chóng và kịp thời là điều rất quan trọng”

Gánh nặng Bệnh lý tim mạch!

Bệnh tim mạch hiện đã trở thành nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu. Hằng năm có khoảng 17,9 triệu người chết do bệnh tim mạch, chiếm 31% tổng số tử vong, trong đó có tới 85% chết do nguyên nhân bệnh động mạch vành hoặc đột quỵ não.

Có 75% số tử vong do tim mạch xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình thấp.

Có đến 17 triệu người dưới 70 tuổi chết liên quan đến bệnh không lây nhiễm, trong đó có 82% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình – thấp và 37% là do nguyên nhân bệnh tim mạch.

Hầu hết các bệnh tim mạch hiện nay có thể phòng ngừa được một cách hiệu quả thông qua việc điều chỉnh lối sống có hại cho sức khỏe như bỏ hút thuốc lá, chế độ ăn lành mạnh, tăng cường tập luyện thể lực và không lạm dụng rượu bia.

Người đã bị bệnh tim mạch hoặc nguy cơ cao bị bệnh tim mạch (khi có các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid) cần được đánh giá sớm và thực hiện các biện pháp phòng bệnh và dùng thuốc phù hợp.

Bệnh động mạch vành đã chiếm tới 14% tử vong toàn cầu và là nguyên nhân chính làm giảm số năm sống còn và số năm sống trong bệnh tật hiệu chỉnh. Nguyên nhân thứ hai dẫn tới tử vong là đột quỵ não chiếm tới 11,1% .  Đáng chú ý, đột quỵ não có xu hướng gia tăng mạnh ở các nước có thu nhập thấp – trung bình. Theo ước tính của WHO, đến năm 2030, tổng số tử vong do đột quỵ não tăng lên đến 30% và chủ yếu ở các nước thu nhập thấp trung bình.

Theo Hiệp Hội Tim mạch Việt Nam, nước ta có khoảng 25% dân số mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp. Bệnh lý tăng huyết áp ngày càng có dấu hiệu gia tăng ở nhóm người trẻ, trong độ tuổi lao động (khoảng 47% số người > 25 tuổi).

Dù chưa có thống kê đầy đủ, nhưng thực tế cho thấy bệnh tim mạch gia tăng hàng năm rất nhanh: Những năm 1980 có khoảng 10% bệnh nhân bị bệnh huyết áp, đến năm 2009 đã là 27%. 10 năm trước, mỗi năm Viện Tim Mạch Quốc gia chỉ can thiệp khoảng 300 ca bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, nhưng năm 2016 đã can thiệp khoảng 3.500 ca/ năm, cho thấy tốc độ gia tăng gấp hơn 10 lần chỉ trong 10 năm.

Trước đây, bệnh mạch vành, động mạch não, bệnh động mạch ngoại biên… thường gặp ở người cao tuổi, nhưng nay có ở bất kỳ lứa tuổi nào. Gần đây, Trung tâm can thiệp Tim mạch BV Đông Đô cũng đã tiếp nhận những bệnh nhân bị suy tim ở lứa tuổi 30 – 40.

Nhưng có khoảng 80% các biến cố tim mạch có thể phòng ngừa nếu ta tầm soát sớm, kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và đến cơ sở y tế kịp thời

Theo GS. Nguyễn Lân Việt, chủ động phòng ngừa bệnh tim mạch là cần thiết nhất với việc duy trì lối sống lành mạnh để hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ về tim mạch.

Hãy kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng/ lần và làm một số xét nghiệm cơ bản như điện tâm đồ, siêu âm tim, sinh hóa máu… để phát hiện sớm bệnh.

Khi mắc bệnh hay các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, cần điều trị tích cực để hạn chế tối đa các biến chứng.​

Cận cảnh ca can thiệp Block Nhĩ Thất hoàn toàn

Cách đây không lâu, bác Đ.T.Y (72 tuổi) đến thăm khám sức khỏe tại Trung tâm tim mạch bệnh viện Đông Đô với triệu chứng mệt nhiều, khó thở, chóng mặt, “thở hổn hển như vừa chạy bộ về” (theo bác Y), thỉnh thoảng đau thắt ngực.

Sau khi thăm khám lâm sàng, thực hiện các đo lường và siêu âm cần thiết như xét nghiệm máu, điện tim, siêu âm Dopple tim… các bác sĩ chẩn đoán bác bị block nhĩ thất hoàn toàn, tăng HA vô căn.

        Vậy, block nhĩ thất là gì?

Tim vốn hoạt động theo cơ chế dẫn truyền điện học nhịp nhàng, từ nút xoang, tâm nhĩ cho đến tâm thất, thông qua các nút phát nhịp và hệ thống dẫn truyền xung điện của các sợi cơ tim, giúp tim đập nhịp nhàng trong quá trình bơm máu đi nuôi cơ thể.

Block nhĩ thất là tình trạng gián đoạn một phần hoặc hoàn toàn xung động dẫn truyền từ tâm nhĩ xuống tâm thất.

Block nhĩ thất độ 3 (còn gọi là block nhĩ thất cao độ, block nhĩ thất hoàn toàn) là trường hợp nặng nhất trong các dạng block nhĩ thất. Khi đó, tâm nhĩ và tâm thất co bóp không còn liên quan đến nhau do xung điện dẫn truyền đã bị chặn đứng hoàn toàn. 

Ekip can thiệp tim mạch tại BV Đông Đô

        Các biểu hiện của block nhĩ thất độ 3 có thể có bao gồm:

+ Choáng váng, chóng mặt do thiếu máu lên não.

+ Khó thở, thở gấp,  mệt mỏi do thiếu oxy nuôi các cơ quan.

+ Đau thắt ngực do thiếu máu nuôi các cơ tim.

+ Ngất xỉu.

Block tim rất nguy hiểm vì những biến chứng mà bệnh gây ra như: rung nhĩ, loạn nhịp tim, nhịp chậm xoang, nhịp tim chậm, ngừng tim, suy tuần hoàn và nặng nhất là đ.ộ.t t.ử.

– Phương pháp điều trị đối với trường hợp bác Đ.T.Y là cấy máy tạo nhịp tim. Đây là một thiết bị điện nhỏ được đặt giúp tạo nhịp tim theo tần số bình thường đủ khả năng bơm máu nuôi các cơ quan trong cơ thể. Ca can thiệp thực hiện trong vòng 1 tiếng. Sau 1 ngày thực hiện can thiệp, sắc mặt bác hồng hào hơn, thở đều và không còn cảm giác mệt mỏi nữa.  

Hình ảnh minh họa cấy máy tạo nhịp

Vì vậy, nếu xuất hiện những triệu chứng như khó thở, đau ngực dữ dội hoặc ngất xỉu không rõ nguyên nhân, các bạn nên đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt để chẩn đoán nguyên nhân và có những biện pháp hỗ trợ kịp thời.

CAN THIỆP BÍT THÔNG LIÊN NHĨ

Thông liên nhĩ  là 1 bệnh tim bẩm sinh, trong đó người bệnh bị khuyết một phần vách liên nhĩ, làm cho dòng máu đi qua lỗ thông theo chiều trái sang phải.

Những lỗ thông nhỏ có thể tự đóng lại, nhưng lỗ thông lớn thường không tự đóng mà gây quá tải thể tích cho thất phải và nhĩ phải, gây tăng áp lực động mạch phổi, tăng sức cản động mạch phổi, phì đại thất phải;

 

Bệnh nhân T.T.H (63 tuổi) đến từ Hà Tĩnh, nhập viện tại Trung tâm tim mạch bệnh viện Đông Đô với triệu chứng khó thở từng cơn, hồi hộp, dễ mệt mỏi…Người bệnh được làm đầy đủ các xét nghiệm, siêu âm tim và phát hiện lỗ thông liên nhĩ, đường kính 21mm. Xác định đây là nguyên nhân gây ra các triệu chứng của bệnh nhân cũng như khảo sát kỹ cho thấy hình thái cấu trúc, chức năng tim phù hợp, người bệnh được các bác sĩ chỉ định điều trị bằng phương pháp bít lỗ thông liên nhĩ bằng dụng cụ qua da.

Mô phỏng phương pháp bít lỗ thông liên nhĩ
Các y bác sĩ bệnh viện Đông Đô tiến hành can thiệp

Các bác sĩ đã sử dụng bóng đo đường kính lỗ thông liên nhĩ, dùng dụng cụ bít lỗ thông hình dù với 2 đĩa, bằng khung nitinol có màng bọc bằng polyutheran. Khi thả vào lỗ thông liên nhĩ 2 cánh dù sẽ kẹp vách liên nhĩ ở giữa và làm bít lỗ thông lại.Theo thời gian, mô bình thường của tim phát triển vào dụng cụ và bao phủ hoàn toàn.

Bít thông liên nhĩ qua da là một phương pháp điều trị thông liên nhĩ đạt hiệu quả cao, an toàn. Đây là một phương pháp ít xâm lấn, thời gian thực hiện thủ thuật ngắn, bệnh nhân nhanh hồi phục.

Nếu có dấu hiệu về tim mạch, hãy chủ động thăm khám sớm và thực hiện theo những chỉ dẫn của bác sĩ để tăng hiệu quả điều trị và khả năng chữa khỏi bệnh.

SUY GIÃN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI LÀ GÌ?

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là hiện tượng hệ thống tĩnh mạch chi dưới bị suy giảm chức năng gây ra tình trạng ứ đọng máu. Đồng thời, các tổ chức lân cận mô cũng bị biến dạng và huyết động bị biến đổi.

Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy, giãn tĩnh mạch chi dưới thường gặp ở khoảng 35% người đang làm việc, khoảng 50% người đã nghỉ hưu, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao gấp 3 lần nam giới.

Bệnh lý này có thể xảy ra ở bất kỳ đối tượng nào, thường dễ bắt gặp ở những người thường xuyên phải đứng lâu do tính chất nghề nghiệp, khả năng mắc bệnh ở nữ giới thường cao gấp 3 lần so với nam giới.

Suy giãn tĩnh mạch chi dưới  bệnh viện Đông Đô
Hiện tượng hệ thống tĩnh mạch chi dưới bị suy giảm chức năng gây ra tình trạng ứ đọng máu

Nguyên nhân gây bệnh

  • do tình trạng suy các van tĩnh mạch, một số trường hợp có thể kèm theo tắc tĩnh mạch. Khiến cho quá trình vận chuyển máu từ chân về tim bị cản trở hoặc gián đoạn và gây ứ trệ tuần hoàn. Bên cạnh đó, tĩnh mạch cũng ngày một giãn to ra.
  • Bệnh nhân từng trải qua một số chấn thương khiến cho van tĩnh mạch bị tổn thương.

Suy Giãn Tĩnh Mạch - Bệnh Viện FV

Triệu chứng thường gặp ở giai đoạn đầu:

– phù chân (nhiều hơn vào cuối ngày).

– hai chân căng tức và nặng nề, bắp chân đau nhức, xuất hiện cảm giác tê rần.

– Về đêm, đôi khi chân bị chuột rút hoặc vọp bẻ.

=> Tình trạng suy giãn tĩnh mạch chi dưới vẫn có thể đáp ứng điều trị hiệu quả nếu bệnh nhân phát hiện sớm, tình trạng bệnh còn nhẹ và chưa có bất kì biến chứng nào.

Vào giai đoạn tiến triển, chân người bệnh bắt đầu có biểu hiện phù ở mắt cá hay bàn chân. Vùng cẳng chân xuất hiện thay đổi màu sắc da, biểu hiện của loạn dưỡng do máu tĩnh mạch ứ lâu ngày. Các tĩnh mạch căng giãn gây cảm giác đau tức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân. Hiện tượng này không mất đi khi nghỉ ngơi, trường hợp nặng hơn có thể thấy các búi tĩnh mạch nổi to rõ trên da thường xuyên, các mảng máu bầm trên da…

Khi giãn tĩnh mạch bước vào giai đoạn biến chứng, tĩnh mạch nông giãn to thành búi, bị viêm tạo huyết khối trong lòng. Kết hợp với tình trạng loét do thiểu dưỡng có thể tạo nên những ổ loét, nhiễm trùng…

Với những trường hợp phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, bác sĩ thường lựa chọn các phương pháp điều trị ngoại khoa có xâm lấn để chữa trị cho bệnh nhân.

Chẩn đoán giãn tĩnh mạch chi dưới

  • Khám lâm sàng: Suy giãn tĩnh mạch có thể được chẩn đoán qua khai thác yếu tố nguy cơ, các triệu chứng của người bệnh. Ở người bệnh có mô dưới da mỏng, có thể nhìn và sờ thấy tĩnh mạch giãn ra và căng nhanh khi chuyển từ tư thế nằm sang đứng.
  • Siêu âm Doppler mạch máu: Siêu âm xác định chẩn đoán khi ghi nhận dòng trào ngược qua van tĩnh mạch với thời gian kéo dài >0.5 giây ở tĩnh mạch hiển và tĩnh mạch sâu ở cẳng chân hoặc >0.1 giây ở tĩnh mạch đùi khoeo. Siêu âm có thể xác định tổn thương của van tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé, tĩnh mạch sâu và các van tĩnh mạch xuyên để giúp lựa chọn kỹ thuật điều trị phù hợp.

Thay đổi những thói quen trong sinh hoạt cũng như quá trình làm việc:

  • Hạn chế việc nằm, ngồi hoặc đứng quá lâu trong một tư thế.
  • Nên lựa chọn những trang phục quần áo rộng rãi, không gây bó sát vào cơ thể.
  • Xây dựng và duy trì chế độ ăn uống lành mạnh bằng cách bổ sung thêm các chất dinh dưỡng như vitamin C và chất xơ