Tag Archives: bệnh viện đông đô

RỐI LOẠN MỠ MÁU Ở TRẺ, CẦN LƯU Ý!

Nhiều trẻ em tuổi dậy thì, tiền dậy thì phát hiện cholesterol trong máu cao, báo động tình trạng rối loạn mỡ máu cần can thiệp sớm.

Hầu hết các bậc cha mẹ không biết chỉ số cholesterol của con mình, cho đến khi trẻ tình cờ phát hiện mỡ máu cao sau một cuộc kiểm tra sức khỏe tổng quát. Lúc này, có thể tình trạng của trẻ trở nên nghiêm trọng. Tuy nhiên, may mắn cả 3 bé đều phát hiện bệnh sớm, chỉ số mỡ máu không quá cao so với mức cho phép và không phải thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao nên có thể điều chỉnh bằng thuốc uống, kết hợp với thay đổi lối sống, thói quen ăn uống khoa học hơn, khám kiểm tra lại sau 3 tháng.

Người trưởng thành không phải đối tượng duy nhất bị bệnh lý rối loạn lipid máu. Trẻ em ở mọi lứa tuổi đều có nguy cơ bị mỡ máu cao nếu lượng LDL-C hoặc chất béo trung tính tích tụ trong máu quá cao, trong khi lượng HDL-C quá thấp. Tình trạng này nếu kéo dài, không được phát hiện có thể gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là vấn đề về tim mạch, khi trẻ trưởng thành. Cụ thể, mỡ máu ở trẻ sẽ dẫn đến sự hình thành mảng bám trên thành động mạch, làm thu hẹp lòng động mạch và chặn dòng máu đến tim, gây ra bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Chỉ số cholesterol bình thường và cholesterol cao quá mức cho phép được quy định như sau: (Nguồn: Viện Tim, Phổi và Máu Quốc gia Mỹ).

Cholesterol mg/dL được chấp nhận Giới hạn mg/dL mg/dL cao
Cholesterol toàn phần Dưới 170 170 – 199 200 trở lên
LDL Dưới 110 110 – 129 130 trở lên
Non HDL Dưới 120 120 – 144 145 trở lên
ApoB Dưới 90 90 – 109 110 trở lên
Triglycerides
Từ 0 đến 9 tuổi Dưới 75 75 – 99 100 trở lên
Từ 10 đến 19 tuổi Dưới 90 90 – 129 130 trở lên
Cholesterol mg/dL được chấp nhận Giới hạn mg/dL mg/dL thấp
HDL Trên 45 40 – 45 40 trở xuống
ApoA-1 Trên 120 115 – 120 115 trở xuống

Nguyên nhân gây rối loạn mỡ máu ở trẻ có thể do đột biến đơn gen hoặc đa gen dẫn đến việc sản xuất quá mức hoặc làm giảm thanh thải triglycerides, LDL-C, hoặc trong việc sản xuất thiếu hoặc thanh thải quá mức HDL-C; nguyên nhân thứ phát do lối sống và các yếu tố khác. Trong đó, lối sống ít vận động với chế độ ăn quá nhiều năng lượng, chất béo bão hòa, cholesterol, chất béo chuyển hóa (được sử dụng trong một số thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn chiên rán nhiều dầu, thức ăn nhanh…) là yếu tố nguy cơ cao.

Nguy cơ gây rối loạn lipid máu ở trẻ em béo phì

Phương pháp hiệu quả nhất để điều trị rối loạn lipid máu ở trẻ là hướng trẻ tới một chế độ ăn uống khoa học song song với tập luyện đều đặn. Cha mẹ cần khuyến khích trẻ ăn thực phẩm ít chất béo toàn phần, chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa và cholesterol. Tổng lượng chất béo mà một đứa trẻ tiêu thụ phải bằng 30% hoặc ít hơn tổng lượng calo hàng ngày (không áp dụng với trẻ dưới 2 tuổi). Trong đó, chất béo bão hòa nên duy trì ở mức dưới 10% tổng lượng calo hàng ngày và chất béo chuyển hóa thì nên tránh tối đa. Đối với những trẻ thuộc nhóm nguy cơ cao, chất béo bão hòa nên được hạn chế ở mức 7% tổng lượng calo còn cholesterol trong khẩu phần là 200 mg mỗi ngày.

Một số loại thực phẩm cần tăng cường trong khẩu phần ăn của trẻ là ngũ cốc không đường, trái cây, sản phẩm từ sữa ít béo, thịt gia cầm bỏ da, cá béo… Trẻ tránh dùng thức ăn nhiều dầu mỡ, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, sản phẩm từ sữa nguyên kem…

Các em cần giữ cân nặng tương xứng với chiều cao theo tuổi, tránh tình trạng thừa cân – béo phì vì đây là tiền căn của một loạt bệnh lý đe dọa trẻ trong tương lai. Để làm điều này, bố mẹ khuyến khích trẻ tăng cường vận động, có thể tập các môn đạp xe, bơi lội, bóng đá, cầu lông… Nghiên cứu cho thấy vận động tối thiểu 30 phút/ngày sẽ giúp nâng cao mức HDL-C và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch cho cả gia đình.

Theo Hiệp hội Nhi khoa Mỹ, trẻ em có một trong các yếu tố nguy cơ (béo phì, đái tháo đường, cao huyết áp, tiền sử gia đình bị tăng lipid máu nặng hoặc bệnh mạch vành sớm, phơi nhiễm thuốc lá) hoặc có các bệnh lý làm tăng nguy cơ tim mạch (rối loạn lipid máu gia đình; bệnh thận mạn; bệnh Kawasaki; cấy ghép mạch máu; ung thư; một số bệnh tim bẩm sinh như hẹp eo động mạch chủ, hẹp chủ, chuyển vị đại động mạch, bất thường mạch vành; bệnh cơ tim; bệnh hệ thống; nhiễm HIV; trầm cảm và rối loạn lưỡng cực ở trẻ vị thành niên) cần khám, xét nghiệm lipid máu khi đói mỗi 1-3 năm. Với bé không có các yếu tố nguy cơ cũng nên xét nghiệm lipid máu một lần trước tuổi dậy thì (thường là từ 9-11 tuổi) và một lần trong khoảng 17-21 tuổi.

(Theo báo Vnexpress)

BAO GIỜ CẦN ĐI THĂM KHÁM TIM MẠCH?

Ở Việt Nam, cứ 4 người thì có 1 người mắc phải vấn đề tim mạch. Các bệnh lý tim mạch thường gặp là: tang huyết áp, bệnh mạch máu ngoại biên, bệnh van tim, suy tim, …

Bệnh tim mạch rất đa dạng nhưng mỗi dạng bệnh thường xuất hiện ở từng lứa tuổi khác nhau. Tuy nhiên, vài năm gần đây, bệnh nhân tim mạch và các tai biến về tim mạch đang có chiều hướng gia tăng ở nhóm người từ 25 – 40 tuổi.

  • Lối sinh hoạt trong đời sống công nghiệp hóa là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tim mạch ở người trẻ. Theo đó, việc sử dụng nhiều loại thực phẩm như bơ sữa động vật, thịt nhưng lại ít vận động khiến lượng calo trong cơ thể không thể tiêu hao hết, gây trì trệ và máu không lưu thông đều trên khắp trong cơ thể, dẫn đến bệnh mạch vành gia tăng.
  • Do sức ép công việc diễn ra trong thời gian dài làm cơ thể bị căng thẳng lớn. Chính điều này là nguyên nhân chính dẫn đến những cơn co thắt tim tại nhóm người trẻ tuổi.
  • Ngoài ra, lối sống gấp, ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi không phù hợp cũng là nguyên nhân khiến người trẻ tuổi mắc bệnh tim mạch ngày càng nhiều.
  • Bệnh lý tim mạch – Nguyên nhân khiến tử thần đến sớm hơn bao giờ hết!

Bạn đừng bỏ qua những dấu hiệu điển hình của bệnh tim mạch như:

  • Đau ngực. Cơn đau tim điển hình được miêu tả là cơn đau tức, đè ép ở giữa ngực, xuất hiện khi gắng sức, đôi khi đi kèm triệu chứng đau nặng lan ra cánh tay trái, cổ hoặc ở hàm.
  • Khó thở. Bệnh nhân suy tim thường biểu hiện khó thở khi gắng sức, nặng hơn có thể khó thở cả khi nằm nghỉ, đôi khi bệnh nhân đang ngủ đột nhiên thức dậy rồi thở hổn hển, gọi là “khó thở kịch phát về đêm”.
  • Đánh trống ngực. Người bệnh có cảm giác nhịp tim nhanh, hay hụt nhịp, là các triệu chứng của các bệnh lý rối loạn nhịp tim. Bởi một số rối loạn nhịp có nguy cơ diễn tiến nặng, bệnh nhân cần được khám đánh giá bệnh lý để điều trị.
  • Hoa mắt, chóng mặt hay ngất. những biểu hiện này có thể do não không cung cấp đủ máu, hay gặp trong các bệnh lý như hẹp động mạch cảnh, hạ huyết áp tư thế, các trường hợp rối loạn nhịp nhanh hay chậm. Nếu tình trạng thiếu máu kéo dài có thể đưa đến ngất.

Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Đông Đô:

  • Thăm khám toàn diện với công nghệ tiên tiến hàng đầu, giúp phát hiện nhanh, chính xác dấu hiệu bệnh.
  • Đội ngũ bác sĩ đầu ngành, nhiều kinh nghiệm trực tiếp thăm khám.
  • Tận hưởng không gian sang trọng tiện nghi cùng cơ sở vật chất hiện đại.
  • Dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp, tận tâm như người nhà.
  • Mọi người lớn từ 18 tuổi trở lên nên đi khám sàng lọc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Những người mắc bệnh tiểu đường, huyết áp cao và bệnh thận lâu năm có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn và cần được kiểm tra thường xuyên dựa trên lời khuyên của bác sĩ tim mạch.

KHI NÀO CẦN THĂM KHÁM CHUYÊN KHOA TIÊU HÓA?

Có rất nhiều vấn đề có thể xảy ra với hệ tiêu hóa. Đôi khi do ăn một số thực phẩm kích thích (đồ chua, cay, thức uống có gas, rượu bia…) hoặc ăn thực phẩm không hợp vệ sinh, bạn có thể bị rối loạn tiêu hóa. Các triệu chứng này có thể biến mất sau đó. Nhưng một số triệu chứng lại là dấu hiệu của bệnh lý tiêu hóa cần được điều trị.

Bạn nên đi khám tiêu hóa nếu có một trong những triệu chứng dưới đây:

  • Đau bụng : xoắn, thắt, quặn, căng tức hoặc dữ dội với các triệu chứng kèm theo: buồn nôn, nôn, rối loạn đại tiện, sốt, chán ăn, vàng da, vàng mắt, gầy sút…
  • Táo bón hoặc tiêu chảy liên tục, đi ra máu đỏ
  • Đầy hơi thường xuyên
  • Cảm giác bụng nóng rát, ợ chua liên tục
  • Nước tiểu sẫm màu
  • Khó nuốt
  • Chán ăn hoặc sụt cân. Cảm giác nhanh no, cồn cào dù chỉ ăn ít.
  • Không dung nạp thực phẩm (xảy ra sau khi sử dụng một số thực phẩm như sữa, gluten: đầy hơi, tiêu chảy, đau bụng, đau đầu, ợ nóng, nôn mửa…)
Các triệu chứng tiêu hóa cần chú ý theo dõi và thăm khám kịp thời

Các bệnh lý hệ tiêu hóa phổ biến, thường gặp như:

  • Bệnh thực quản: Viêm thực quản, bệnh trào ngược dạ dày – thực quản, loét, tắc nghẽn, thủng thực quản, túi thừa thực quản, thực quản Barrett, ung thư thực quản…
  • Bệnh dạ dày, tá tràng: Viêm dạ dày và tá tràng có hoặc không nhiễm HP, xuất huyết dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng, hẹp môn vị, co thắt môn vị, polyp dạ dày tá tràng, ung thư dạ dày…
  • Bệnh ruột thừa: Viêm ruột thừa, tăng sản ở ruột thừa, sỏi ở ruột thừa…
  • Bệnh ruột non và đại trực tràng: Hội chứng ruột kích thích, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng, trực tràng, polyp đại trực tràng, rối loạn mạch máu của ruột, ung thư đại trực tràng…
  • Bệnh của gan: Gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, suy gan, bệnh gan nhiễm độc, viêm gan tự miễn, ung thư gan, nang gan,…
  • Bệnh túi mật, ống mật và tụy.
  • Bệnh khác của hệ tiêu hóa: Ruột kém hấp thu, bệnh Celiac, táo bón, tiêu chảy, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, chảy máu tiêu hóa, nhiễm ký sinh trùng đường ruột…
  • Trĩ

Một số bệnh lý tiêu hóa có triệu chứng nhẹ, khó phân biệt và dễ bị bỏ qua. Do đó bạn không nên chủ quan. Đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa ở giai đoạn sớm thường có rất ít triệu chứng, các triệu chứng giống như những bệnh tiêu hóa thông thường khác.  Nếu bạn có yếu tố nguy cơ, bạn nên tầm soát định kỳ để phát hiện kịp thời ung thư ở giai đoạn sớm.

CAN THIỆP BÍT THÔNG LIÊN NHĨ

Thông liên nhĩ  là 1 bệnh tim bẩm sinh, trong đó người bệnh bị khuyết một phần vách liên nhĩ, làm cho dòng máu đi qua lỗ thông theo chiều trái sang phải.

Những lỗ thông nhỏ có thể tự đóng lại, nhưng lỗ thông lớn thường không tự đóng mà gây quá tải thể tích cho thất phải và nhĩ phải, gây tăng áp lực động mạch phổi, tăng sức cản động mạch phổi, phì đại thất phải;

 

Bệnh nhân T.T.H (63 tuổi) đến từ Hà Tĩnh, nhập viện tại Trung tâm tim mạch bệnh viện Đông Đô với triệu chứng khó thở từng cơn, hồi hộp, dễ mệt mỏi…Người bệnh được làm đầy đủ các xét nghiệm, siêu âm tim và phát hiện lỗ thông liên nhĩ, đường kính 21mm. Xác định đây là nguyên nhân gây ra các triệu chứng của bệnh nhân cũng như khảo sát kỹ cho thấy hình thái cấu trúc, chức năng tim phù hợp, người bệnh được các bác sĩ chỉ định điều trị bằng phương pháp bít lỗ thông liên nhĩ bằng dụng cụ qua da.

Mô phỏng phương pháp bít lỗ thông liên nhĩ
Các y bác sĩ bệnh viện Đông Đô tiến hành can thiệp

Các bác sĩ đã sử dụng bóng đo đường kính lỗ thông liên nhĩ, dùng dụng cụ bít lỗ thông hình dù với 2 đĩa, bằng khung nitinol có màng bọc bằng polyutheran. Khi thả vào lỗ thông liên nhĩ 2 cánh dù sẽ kẹp vách liên nhĩ ở giữa và làm bít lỗ thông lại.Theo thời gian, mô bình thường của tim phát triển vào dụng cụ và bao phủ hoàn toàn.

Bít thông liên nhĩ qua da là một phương pháp điều trị thông liên nhĩ đạt hiệu quả cao, an toàn. Đây là một phương pháp ít xâm lấn, thời gian thực hiện thủ thuật ngắn, bệnh nhân nhanh hồi phục.

Nếu có dấu hiệu về tim mạch, hãy chủ động thăm khám sớm và thực hiện theo những chỉ dẫn của bác sĩ để tăng hiệu quả điều trị và khả năng chữa khỏi bệnh.

CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ

Một ngày cuối tháng 7, bác T.T.V (62 tuổi) từ Thái Nguyên xuống Hà Nội thăm khám, khi không chịu nổi cơn đau như chuột rút ở đùi và bắp chân khi đi bộ, leo cầu thang hay làm gắng sức. Triệu chứng xuất hiện từ lâu, thường đỡ hơn khi được nghỉ ngơi. Từ trước, bác và gia đình vẫn cho rằng đây chỉ là triệu chứng thường gặp của bệnh viêm khớp hay đau dây thần kinh toạ ở người già.

Tại bệnh viện Đông Đô, sau khi thăm khám chẩn đoán sơ bộ và thực hiện các xét nghiệm như xét nghiệm máu, siêu âm động mạch chi dưới,… các bác sĩ đã chẩn đoán bác bị xơ vữa động mạch ngoại biên (PAD).

CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ
Hình ảnh động mạch xơ vữa tắc nghẽn
CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG ĐÔ
Hình ảnh động mạch xơ vữa tắc nghẽn

Bệnh động mạch ngoại biên là bệnh lý tắc nghẽn mạch máu ngoại biên, do các mảng xơ vữa và huyết khối. Bệnh động mạch ngoại biên thường gặp nhất là các tổn thương động mạch vùng tiểu khung, chi dưới và chi trên. Nguyên nhân chính gây bệnh lý động mạch ngoại biên là hẹp tắc do mảng xơ vữa. Lòng mạch bị hẹp lại do lắng đọng mỡ trên thành mạch.

Từ kết quả xét nghiệm và siêu âm, bác T.T.V được chỉ định điều trị bằng can thiệp động mạch chi dưới. Các bác sĩ đưa bóng vào vị trí hẹp tắc. Dùng bơm áp lực để bơm bóng, mở rộng lòng mạch. Sau khi rút bóng, đưa giá đỡ lòng mạch (stent) vào vị trí hẹp – tắc. Sau đó nong tạo hình lòng mạch trong giá đỡ (stent) bằng bóng.

Hình ảnh xơ vữa động mạch
Các bác sĩ tại bệnh viện Đông Đô đang thực hiện ca can thiệp
Mô tả quá trình tạo hình mạch bằng stent

Sau khi can thiệp, bác T.T.V được các bác sĩ căn dặn cần có chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể dục thường xuyên bằng cách đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày.

Theo các bác sĩ bệnh viện Đông Đô việc phát hiện bệnh mạch máu ngoại biên có vai trò rất quan trọng. Ngoài việc giúp điều trị sớm tình trạng thiếu máu chi, trước khi có những biến chứng nặng nề như hoại tử chi, phải cắt cụt chi, người bị bệnh động mạch ngoại biên thường có tình trạng xơ vữa ở các động mạch khác bao gồm cả động mạch cấp máu cho tim và não. Thực tế, bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên có nguy cơ nhồi máu cơ tim hay đột quỵ cao gấp 6 đến 7 lần so với người không có bệnh.

Các vấn đề về tim mạch sau nhiễm COVID-19

Dấu hiệu cho thấy bạn có thể đã gặp phải hoặc tiến triển một vấn đề về tim mạch sau nhiễm COVID-19

  • Mệt mỏi một cách bất thường
  • khó thở, đau ngực hoặc đánh trống ngực.
  • Cảm thấy tim đập nhanh hoặc không đều trong lồng ngực (hồi hộp đánh trống ngực)
  • Cảm thấy choáng váng hoặc chóng mặt, đặc biệt là khi đứng
  • Khó chịu ở ngực
  • Nhồi máu cơ tim loại 2 (là do thiếu máu nuôi dưỡng cơ tim nhưng không phải do tắc động mạch vành do cục máu đông trực tiếp) lại gặp phổ biến hơn với COVID-19. Loại nhồi máu cơ tim này có thể gây ra bởi sự gia tăng các căng thẳng trên tim, chẳng hạn như nhịp tim nhanh, nồng độ oxy trong máu thấp hoặc thiếu máu, bởi vì cơ tim không nhận đủ oxy được cung cấp trong máu để thực hiện công việc bổ sung này. Vấn đề này đã được ghi nhận ở những người mắc bệnh covid 19.

Theo một nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature Medicine vào tháng 2/2022, Covid-19 làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch trong ít nhất một năm sau khi khỏi bệnh. So với những người chưa từng nhiễm Covid-19 thì người bị nhiễm Covid-19 có nhiều khả năng hơn bị các biến chứng tim mạch như viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim, thuyên tắc phổi, nhồi máu cơ tim, đột tử.

Biến chứng đông máu do Covid-19
Biến chứng hậu Covid-19

Các biến chứng tim và mạch máu liên quan đến Covid-19 rất da dạng như:

– Viêm cơ tim: Nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim ở người bệnh mắc Covid-19 là do xuất hiện cơn bão cytokine. Hội chứng này khiến hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng liên tục và kéo dài kể cả khi virus không còn khả năng gây bệnh. Các cytokine tấn công cơ thể gây viêm, hoại tử các tế bào cơ tim gây viêm cơ tim. Tình trạng này kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ suy tim.

– Rối loạn nhịp tim

– Tắc huyết khối: Virus SARS-CoV-2 có khả năng làm tổn thương các tế bào nội mạc mạch máu và gây viêm mạch máu làm tăng nguy cơ hình thành các cục máu đông trong lòng mạch gây tắc mạch máu. Sự xuất hiện của huyết khối sẽ làm tăng mức độ nặng và nguy cơ tử vong cho bệnh nhân.

Nếu người bệnh bị thuyên tắc tại các vị trí nguy hiểm như thuyên tắc động mạch phổi, nhồi máu cơ tim cấp sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ.

– Viêm màng ngoài tim

– Tràn dịch màng ngoài tim

– Hội chứng mạch vành cấp tính

– Nhồi máu cơ tim

– Suy chức năng tế bào nội mạc và viêm mạch máu: Virus SARS-CoV-2 gây tổn thương nội mạc mạch máu thông qua cơ chế gây tổn thương trực tiếp và gián tiếp qua đáp ứng miễn dịch. Từ đó gây rối loạn chức năng nội mạc mạch máu, làm giảm ly giải sợi fibrin, tăng nguy cơ đông máu.

– Suy tim

– Thuyên tắc phổi

Di chứng thường mắc hậu Covid-19

Trẻ em ít gặp hội chứng hậu Covid-19 hơn so với người lớn.

Thực tế so với số bệnh nhân nhiễm Covid-19 thì chỉ có một số ít người bị biến chứng tim mạch nghiêm trọng như suy tim hay nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, khi có các triệu chứng có thể liên quan đến biến chứng tim mạch, người bệnh không nên chủ quan mà nên đi khám:

– Mệt mỏi kéo dài.

– Tim đập nhanh hoặc đánh trống ngực.

– Khó thở, khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm.

– Khó thở kèm theo mệt mỏi hoặc sưng mắt cá nhân.

– Cảm giác nặng ngực, tức ngực dai dẳng hoặc nghiêm trọng hơn.

– Đau ngực khi gắng sức.

– Cảm giác lâng lâng, chóng mặt, nhất là khi đứng.

Đặc biệt, khi có các triệu chứng sau cần liên hệ cơ sở y tế ngay:

– Khó thở kèm theo độ bão hòa oxi thấp (dưới 92%)

– Khó thở kèm theo môi hoặc mặt hơi xanh.

– Khó thở khởi phát đột ngột.

– Đau ngực dữ dội, đau thắt ngực đột ngột.

– Tức ngực kèm theo buồn nôn, khó thở, choáng váng hoặc đổ mồ hôi.

Các tổ chức, hiệp hội y tế quốc gia, quốc tế, vẫn đang tiếp tục nghiên cứu theo dõi sức khỏe lâu dài của những người sống sót sau COVID-19. Cho tới nay, các báo cáo cho thấy các thống nhất cơ bản: có một số triệu chứng liên quan tim mạch tồn tại và xuất hiện sau nhiều tháng ở người nhiễm COVID như hồi hộp trống ngực, khó thở nhẹ đặc biệt là dấu hiệu chóng mặt và “mù mờ não”

chúng ta cũng không nên xem thường và bỏ sót những nguy cơ tim mạch lâu dài sau nhiễm COVID. Chúng ta nên giữ thái độ hài hòa, bình tĩnh, thận trọng theo dõi các diễn biến tim mạch sau khi nhiễm COVID.