All posts by admin

Tư vấn trực tuyến các bệnh về tim mạch

Thưa giáo sư, tôi đã đặt 1 stend cho động mạch vành cách đây 2 năm, từ đó tới nay tôi vẫn dùng thuốc và khám định kỳ tại viện tim Hà Nội và Đông Đô. Giáo sư cho tôi hỏi tôi có phải đi chụp kiểm tra không? Xin cảm ơn giáo sư!

 (Nguyễn Tiến Thức, 53 tuổi, BT6-A24 Mỹ đình 2 Hà Nội)

GS. TS. Nguyễn Lân Việt:

Sau khi đã được nong và đặt Stent động mạch vành thì người bệnh vẫn cần thiết có khám định kỳ và làm 1 số xét nghiệm thường quy theo chỉ định của bác sỹ để biết được tình trạng của bệnh cũng như 1 số biến chứng có thể xảy ra, từ đó thầy thuốc mới có hướng điều trị kịp thời cho mình. Nói chung, các thầy thuốc thường chỉ chỉ định chụp lại động mạch vành khi bệnh nhân có biểu hiện đau tức ngực, khó thở khi gắng sức hoặc qua 1 số thăm dò thấy có biểu hiện của hẹp tắc Stent hay hẹp tắc những vị trí động mạch vành khác.

Tôi là nữ, 59 tuổi. Huyết áp thường xuyên của tôi là 130/ 80. Cao 1m52, nặng 56kg . Ba mẹ tôi đều bị huyết áp cao.Nhưng gần đây tôi bị hiện tượng choáng váng và khi đo thì huyết áp là 130/60. Tôi có uống nước đường nóng nhưng không thấy bớt

Xin hỏi Bác sĩ:
1/ Đây là hiện tượng gì? Có phải triệu chứng suy tim không?
2/ Nên đối phó tức thời bằng cách nào ngoài việc nằm nghỉ?
3/ Có cách nào phòng tránh?
Xin cám ơn Bác sĩ

 (Nguyễn thị Lan, 59 tuổi, 190 Thảo điền quận 2 TPHCM)

GS. TS. Nguyễn Lân Việt:

Hiện tượng choáng váng có thể xảy ra nhất thời hoặc thường xuyên. Choáng váng là triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nhau như tụt huyết áp hoặc ngược lại khi huyết áp quá cao, thiếu máu, hạ đường huyết, hẹp động mạch cảnh, tai biến mạch não thoáng qua, một số các rối loạn nhịp tim, v.v.

Vì vậy, chị nên đến bệnh viện để các bác sỹ khám lâm sàng và làm 1 số thăm dò cần thiết để xác định xem nguyên nhân choáng váng của chị là gì.

Thưa bác sĩ, hiện tại vợ cháu đang mang thai được 28 tuần. Khi siêu âm ở tuần 18 bác sĩ phát hiện thai nhi bị dị tật tim bẩm sinh (hội chứng thiểu sản thất trái). Cháu đã đưa vợ đi hội chẩn ở viện C bác sĩ cũng kết luận như vậy. Bác sĩ khuyên cháu nên đình chỉ thai nghén càng sớm càng tốt vì đây là dị tật bẩm sinh nặng và hiếm gặp. Cháu và vợ đã suy nghĩ rất nhiều, hai bên gia đình không cho vợ chồng cháu bỏ đứa bé vì sợ mang tội. Vì thế cháu đã phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều, những lần siêu âm tiếp theo các chỉ số siêu âm thai con cháu đều đạt tiêu chuẩn. Thưa bác sĩ liệu sau khi sinh ra con cháu có được khoẻ mạnh và phát triển như những đứa trẻ bình thường khác được không? Việt Nam đã có ca phẫu thuật hội chứng thiểu sản thất trái nào chưa và tỷ lệ thành công là bao nhiêu ah? Cháu xin chân thành cảm ơn bác sĩ!

 (Trần Minh Thanh, 26 tuổi)

GS.TS Nguyễn Lân Việt:

Nếu đúng như các Bác sĩ đã xác định thai nhi của vợ chồng cháu bị thiểu sản thất trái thì đây thực sự là 1 dị tật tim bẩm sinh hiếm gặp nhưng rất nặng và tiên lượng thường xấu, song nếu gia đình cháu quyết tâm để vợ cháu giữ thai thì sau khi sinh chắc chắn cần làm siêu âm Doppler tim để khẳng định có đúng như chẩn đoán trước sinh hay không. Hy vọng là sau khi sinh mà cấu trúc tim không đúng như chẩn đoán trước sinh thì tốt quá! Còn theo tôi biết thì những trường hợp thiểu sản thất trái bẩm sinh gần như chưa có biện pháp điều trị triệt để mà chỉ có các biện pháp điều trị tạm thời mà thôi.

Chào giáo sư Nguyễn Lân Việt!

Cháu xin hỏi một số vấn đề xung quanh việc thông liên nhĩ.
Trước đây không biết. Đến năm 2012 khi sinh bé đầu tiên và đi khám vợ cháu mới phát hiện bị thông liên nhĩ và trong năm đó đã đi bít rù ở C7 Khoa tim mạnh BV Bạch Mai rồi.
Sức khoẻ tương đối ổn định. Vậy cho cháu hỏi phương pháp bít rù đó được bao nhiêu thời gian và có phải đi bít lại không hay làm các cuộc phẫu thuật khác không?Ít nữa về già có bị ảnh hưởng nữa không?
Vợ chồng cháu vẫn còn trẻ và sinh được một bé năm 2012. Liệu đến sau 4-5 năm nữa vợ chồng cháu muốn có bé nữa liệu được không? Có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ của vợ cháu không? Rất mong được giáo sư trả lời
Cháu xin chân thành cảm ơn!

 (Nguyen Phuc Thanh, 32 tuổi, Thanh xa, Nghia Hiep, Yen My, Hung Yen)

GS.TS Nguyễn Lân Việt:

Thông liên nhĩ là bệnh lý tim bẩm sinh thường gặp. Điều trị đóng lỗ thông bằng dụng cụ qua da là 1 biện pháp điều trị tiên tiến, thay thế cho phẫu thuật trước đây. Về nguyên tắc, sau khi bít lỗ thông liên nhĩ bằng dụng cụ thành công bệnh nhân có thể coi như khỏi bệnh hoàn toàn. Tùy vào tình trạng bệnh nhân trước khi làm thủ thuật, các bác sỹ chuyên khoa tim mạch sẽ có kế hoạch tái khám và theo dõi cho bệnh nhân. Trường hợp của vợ cháu nên đến khám CK tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai để được thăm khám lại. Nếu sức khỏe vợ cháu khá ổn định như cháu nói và kiểm tra thấy áp lực động mạch phổi bình thường thì việc có thai và sinh đẻ tiếp thường cũng không bị ảnh hưởng gì.

Kính thưa GS. TS. Nguyễn Lân Việt;

Tôi đã mổ tim thay van 2 lá cách đây 4 năm, vẫn uống Symtron đều đặn theo toa bác sĩ. Ngoài ra, tôi còn uống các loại thuốc trị các bệnh trầm cảm, phì đại tuyến tiền liệt, đau thần kinh toạ. Xin hỏi GS. TS. nguy cơ hình thành cục máu đông có tăng cao khi uống nhiều loại thuốc như vậy không, và biện pháp đối phó?
Xin GS.TS. giúp tôi. Xin chân thành cảm tạ.

 (Phạm văn Mát, 53 tuổi, 765 Tân Kỳ Tân Quý,Bình Hưng Hoà A, Bình Tân.)

GS. TS. Nguyễn Lân Việt:

Về nguyên tắc, khi đã thay van 2 lá cơ học thì bắt buộc phải sử dụng các thuốc chống đông máu 1 cách thường xuyên. Trường hợp của ông vẫn đang uống Sintrom đều đặn theo đơn của Bác sỹ như vậy là đúng. Nhưng ông cũng cần xét nghiệm về INR và tỷ lệ Prothrombin 1 cách định kỳ để các thây thuốc sẽ có cơ sở điều chỉnh kịp thời liều thuốc chống đông cho ông.

Ông có nói là hiện tại ông còn đang uống thêm các thuốc trị bệnh trầm cảm, phì đại tiền liệt tuyến, đau thần kinh tọa. Các thuốc chống đông thường có bị tác động bởi nhiều loại thuốc khác. Ví dụ như các thuốc chống trầm cảm có thể làm tăng hiệu quả thuốc chống đông nên dễ có nguy cơ bị chảy máu. Vì vậy, tốt nhất là ông nên xét nghiệm INR và PT 1 cách định kỳ và xin ý kiến trực tiếp của thầy thuốc điều trị về các loại thuốc mà ông định dùng thêm, để tránh tình trạng làm tăng hoặc giảm hiệu quả của thuốc chống đông.

Hành Trình “Đông Ấm Sơn La” cùng Bệnh Viện Đông Đô tại Xã Tân Xuân.

Tân Xuân là xã đặc biệt khó khăn của huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Xã có gần 3km đường biên giới với nước bạn Lào. Là địa phương thuần nông, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, trình độ dân trí thấp, giao thông cách trở, tỷ lệ hộ nghèo cao.. là những rào cản lớn để xã vươn lên phát triển kinh tế – xã hội. Người dân ít có cơ hội được tiếp cận với khoa học công nghệ, nền y tế hiện đại.
Ngày 5.11, Đoàn thanh niên Bộ Khoa học Công nghệ phối hợp với Bệnh viện Đông Đô và các nhà tài trợ tổ chức chương trình đông ấm Sơn La 2022 tại xã Tân Xuân.
Vượt qua chặng đường hơn 174km đường đồi núi hiểm trở quanh co, trong sương mù và cái lạnh đầu mùa. Đoàn tình nguyện mang trong tim nhiệt huyết của tuổi trẻ, và mong muốn lan tỏa hơi ấm, san sẻ gánh nặng với đồng bào dân tộc vùng cao.
Tại chương trình, các đơn vị đã trao chăn, áo khoác, tất, ủng, bánh kẹo cho gần 100 học sinh mầm non, 5 chiếc tivi cho các điểm trường mầm non trên địa bàn xã Tân Xuân.
Đồng hành cùng Đoàn Thanh Niên Bộ Khoa Học Công Nghê, , bệnh viện Đông Đô cũng tổ chức thăm khám và phát thuốc miễn phí cho trẻ em và người dân tại xã Tân Xuân.
Những em nhỏ lứa tuổi mẫu giáo hầu hết đều chưa nghe nói được tiếng Kinh, nên những lời động viên, chia sẻ hỏi thăm đều phải nhờ các thầy cô giáo nói cho các em hiểu. Mỗi người trong đoàn đều có những cảm xúc không thể diễn tả thành lời khi phải đối diện với thực tế khó khăn, mà trước khi tới đây không sao hình dung được hết.
Những phần quà tuy không nhiều, buổi thăm khám chỉ có thể kéo dài trong ngày nhưng cũng một phần giúp các em bé mầm non và người dân ở đây bớt đi thiếu thốn, khó khăn và đẩy lui giá buốt vùng cao.
Một số hình ảnh chương trình từ thiện:

Nhận biết các giai đoạn tiến triển của bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây nên. Vi rút Dengue có 4 týp thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu. Bệnh xảy ra quanh năm, thƣờng gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.

Sốt xuất huyết “cơn ác mộng” khi vào mùa
Sốt xuất huyết “cơn ác mộng” khi vào mùa

Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục.

Giai đoạn sốt 

Lâm sàng 

  • Sốt cao đột ngột, liên tục.
  • Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn.
  • Da xung huyết.
  • Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.
  • Nghiệm pháp dây thắt dương tính.
  • Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam.

Cận lâm sàng

  • Dung tích hồng cầu (Hematocrit) bình thường.
  • Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100.000/mm3 ).
  • Số lượng bạch cầu thường giảm.

Giai đoạn tiến triển của bệnh sốt xuất huyết:

Thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh

Lâm sàng 

a) Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt.

b) Có thể có các biểu hiện sau:

– Biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ):

+ Tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau.

+ Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg), tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít.

– Xuất huyết:

+ Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím.

+ Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn.

+ Xuất huyết nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng.

c) Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc.

Cận lâm sàng 

  •  Hematocrit tăng so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc so với giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi.
  • Số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm3 (<100 G/L).
  • Enzym AST, ALT thường tăng.
  • Trong trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu.
  • Siêu âm hoặc xquang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi.

Giai đoạn hồi phục bệnh sốt xuất huyết

Lâm sàng 

  • Sau 24-48 giờ của giai đoạn nguy hiểm, có hiện tượng tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch.
  • Giai đoạn này kéo dài 48-72 giờ.
  • Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều.
  • Có thể có nhịp tim chậm và thay đổi về điện tâm đồ.
  • Trong giai đoạn này, nếu truyền dịch quá mức có thể gây ra phù phổi hoặc suy tim.

Cận lâm sàng 

  • Hematocrit trở về bình thƣờng hoặc có thể thấp hơn do hiện tƣợng pha loãng máu khi dịch đƣợc tái hấp thu trở lại.
  • Số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt.
  • Số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, muộn hơn so với số lượng bạch cầu.

 Phòng bệnh 

  •  Thực hiện công tác giám sát, phòng chống sốt xuất huyết Dengue theo quy định của Bộ Y tế.
  •  Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh.
  •  Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là kiểm soát côn trùng trung gian truyền bệnh như tránh muỗi đốt, diệt bọ gậy (loăng quăng), diệt muỗi trưởng thành, vệ sinh môi trường loại bỏ ổ chứa nước đọng.

Tài liệu tham khảo

Bộ Y Tế “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em”. Sốt xuất huyết, 2015, trang 505.

Các biến chứng khi đeo kính áp tròng

Ngày nay, có hơn 140 triệu người trên thế giới đang sử dụng kính áp tròng để điều chỉnh thị lực thay cho kính gọng.

Kính áp tròng không chỉ giúp điều chỉnh tật khúc xạ, mà còn mang tính thẩm mỹ: giúp đổi màu tròng mắt, làm tròng mắt to hơn, che sẹo giác mạc hoặc hỗ trợ điều trị một số bệnh lý giác mạc. Bên cạnh những lợi ích của việc đeo kính áp tròng, người sử dụng cũng đối một với một số rủi ro tiềm ẩn.

Đeo kính áp tròng coi chừng nhiễm trùng giác mạc
Đeo kính áp tròng coi chừng nhiễm trùng giác mạc

Kính áp tròng gây ra những thay đổi sinh lý đáng kể trong chuyển hóa giác mạc, biểu mô giác mạc và nội mô, thành phần và sự sản xuất nước mắt, oxy và carbon dioxide trong giác mạc. Những thay đổi này có thể dẫn đến nhiều rối loạn khác nhau của bề mặt nhãn cầu và có thể làm trầm trọng thêm các tình trạng bệnh lý đã có từ trước. Một số bệnh lý tồn tại từ trước sẽ nặng lên khi đeo kính tiếp xúc như: viêm kết mạc dị ứng, viêm kết mạc mùa xuân, viêm bờ mi và khô mắt. Các vấn đề liên quan đến kính tiếp xúc, chẳng hạn như đeo kính tiếp xúc bị hỏng hay cong vênh, mất lớp phủ và có nhiều cặn bẩn, vệ sinh kính tiếp xúc không đúng cách có thể dẫn đến đến các biến chứng ở mắt.

  1. Sự lắng đọng protein xuất hiện như một sương mù trên bề mặt bên ngoài của kính tiếp xúc. Người ta cho rằng tình trạng viêm hoặc dị ứng ở mắt có thể phát sinh do sự cọ xát của các protein với bề mặt nhãn cầu. Ngoài ra, các chất lắng đọng lipid có nguồn gốc chủ yếu từ các chất tiết của tuyến meibomian. Những chất tiết này tạo ra một dạng chất nhờn bề mặt kính. Vi khuẩn, nấm và động vật nguyên sinh có thể bám vào bề mặt của kính tiếp xúc chặt hơn nhờ cái chất lắng đọng này.
  2. Viêm kết mạc nhú gai khổng lồ: bệnh lý xảy ra hệ thống miễn dịch của mắt kích hoạt phản ứng dị ứng với các kháng nguyên của kính tiếp xúc. Các triệu chứng có thể bao gồm tăng xuất tiết nhầy, cương tụ kết mạc, kích ứng và ngứa mắt.
  3. Viêm giác mạc chấm nông: là biến chứng thường gặp nhất. Nguyên nhân bao gồm: chấn thương cơ học, độc tính hóa học đối với chất bảo quản và thuốc bôi tại chỗ, tình trạng thiếu oxy, hội chứng thấu kính quá chặt (tight lens syndrome), đeo kính tiếp xúc quá lâu, kính tiếp xúc bị khô và thường gặp nhất là khô mắt.
  4. Phù giác mạc do thiếu oxy giác mạc: hầu hết oxy đến giác mạc được cung cấp từ sự khuếch tán oxy từ không khí vào nước mắt và một phần oxy được cung cấp từ các mạc máu vùng rìa giác mạc. Tình trạng thiếu oxy giác mạc xảy ra khi lượng oxy khuếch tán từ không khí giảm khi có mặt của kính tiếp xúc. Nồng độ oxy trong giác mạc giảm có thể dẫn đến thay đổi trong hoạt động trao đổi chất, với kết quả là phù nhu mô giác mạc.
  5. Viêm giác mạc do nhiễm trùng: đây là biến chứng nghiêm trọng nhất. Các yếu tố nguy cơ gây loét giác mạc do nhiễm trùng bao gồm: tình trạng thiếu oxy ở giác mạc, tăng sự bám dính của các sinh vật (vi khuẩn, nấm, amip) vào biểu mô giác mạc khi có kính tiếp xúc, đeo kính tiếp xúc trong thời gian dài, vệ sinh kính tiếp xúc và hộp đựng kính.

Các biến chứng liên quan đến kính tiếp xúc từ nhẹ đến nặng và xảy ra với tất cả các thể thức đeo kính. Người đeo cần tuân thủ các bước làm sạch kính, thực hiện đúng quy trình đeo kính và chế độ thay thế kính. Khi cảm thấy bất thường, người sử dụng kính tiếp xúc cần ngưng sử dụng kính và đến khám bác sĩ mắt để được điều trị kịp thời

 

 

 

Thăm khám – nội soi tiêu hóa cùng Chuyên gia – bác sĩ!

Bệnh lý đường tiêu hóa ngày càng phổ biến và trẻ hóa. Để tránh những hậu quả nghiêm trọng, khi gặp các dấu hiệu bất thường người bệnh cần nội soi tiêu hóa định kỳ để phát hiện bệnh, tầm soát ung thư sớm nhất.
– Đến với Bệnh viện Đa khoa Đông Đô, người bệnh sẽ được thăm khám, nội soi trực tiếp với chuyên gia giàu kinh nghiệm bằng công nghệ NBI tiên tiến nhất.
* Tiến sĩ, Bác sĩ Phạm Bình Nguyên với nhiều năm kinh nghiệm trong khám và điều trị bệnh lý Tiêu hóa, gan mật, tụy. Hiện tại Tiến sĩ, Bác sĩ Phạm Bình Nguyên đang công tác tại Trung Tâm Tiêu Hóa – Gan Mật – Bệnh Viện Bạch Mai.
* Bác sĩ Hoàng Anh Thư, chuyên gia nội soi tiêu hóa với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề.
– Trung tâm tiêu hóa bệnh viện Đông Đô ứng dụng công nghệ nội soi với dải tần ánh sáng hẹp NBI, giúp đánh giá chính xác tình trạng tổn thương niêm mạc dạ dày – đại tràng đặc biệt giúp phát hiện được các tổn thương U.T ở giai đoạn sớm điều này chẩn đoán chính xác các bệnh lý dạ dày, đại tràng.
– Với hình ảnh phóng đại, bộ lọc ánh sáng với bước sóng ngắn, giúp phát hiện các polyp dạ dày – đại tràng, các khối u bên trong dạ dày đại tràng, dù có kích thước nhỏ nhất.
Quá trình nội soi diễn ra cũng trở nên dễ dàng – nhanh chóng và nhẹ nhàng hơn. Thời gian tiến hành nội soi kéo dài chỉ từ 15-20 phút.
=> Với kinh nghiệm cùng chuyên môn vững chắc của các chuyên gia, bác sĩ, kết hợp với hệ thống cơ sở vật chất, máy móc hiện đại, dịch vụ chất lượng của Bệnh viện Đa khoa Đông Đô, giúp rút ngắn quá trình điều trị, tiết kiệm chi phí cho người bệnh mắc bệnh lý đường tiêu hóa.

Cần làm gì khi mắc Cúm B ?

Thời tiết giao mùa, nhiệt độ thay đổi thất thường là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, virus gây bệnh cúm mùa phát triển trong đó có cúm B. Cúm B là chủng cúm phổ biến, so với cúm A thì cúm B ít nguy hiểm hơn. Ở cúm B chỉ gặp ở người, loại virus gây cúm B rất lành tính, đa phần người bệnh có thể khỏi sau vài ngày nghỉ ngơi… Vì vậy loại virus gây cúm B không gây ra đại dịch cúm ở người.

Triệu chứng mắc Cúm B

– Khi mắc cúm B các biểu hiện ban đầu thường nhầm lẫn với bệnh lý cảm cúm thông thường nhưng ở mức độ nghiêm trọng hơn. Khi mắc cúm B người bệnh có thể sốt nóng hoặc rét run, thường sốt cao với nhiệt độ khoảng 39-41độ C ở những ngày đầu phát bệnh. Tùy từng bệnh nhân sốt có thể kéo dài đến 5 ngày. Ngoài ra bệnh nhân sẽ bị ho, đau mỏi cơ, đổ mồ hôi có thể kéo dài vài ngày hoặc vài tuần. Người bệnh ho, mệt mỏi kéo dài đến 2 tuần hoặc lâu hơn nên việc này gây cảm giác khó chịu cho người bệnh.

– Một số dấu hiệu cảnh báo cúm B nguy hiểm, cần nhập viện để được điều trị kịp thời: Các biểu hiện ở người lớn là khó thở, thở gấp, sốt cao trên 39 độ C kéo dài, đau tức ngực, chóng mặt, tiêu chảy kéo dài, nôn ói nhiều… Ở trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh có biểu hiện khó thở, thở gấp, bỏ ăn, ngủ nhiều, da xanh tái, sốt kèm phát ban hoặc sốt cao trên 38.5, độ C kéo dài, nôn mửa nhiều… Nếu ở người cao tuổi, người mắc bệnh lý mạn tính, người suy giảm miễn dịch khi mắc cúm B cũng có thể xảy ra biến chứng nặng nếu khi được điều trị kịp thời.

Cần làm gì khi mắc cúm B?

Cũng giống như các loại cúm virus cúm B chưa có thuốc đặc trị mà chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng ví như hạ sốt, giảm ho,.. và cần kết hợp nâng cao thể lực, tăng sức đề kháng cơ thể.

– Nguyên tắc điều trị tùy từng người bệnh mà các bác sĩ sẽ chỉ định các loại thuốc như: hạ sốt giảm đau, hạ sốt hoặc có biểu hiện bội nhiễm thì chỉ định thuốc điều trị.

– Khi mắc cúm cần theo dõi nhiệt độ cơ thể thường xuyên, không tiếp xúc với người khác ở nơi công cộng. Tại nhà cũng phải đeo khẩu trang, tăng cường rửa tay, vệ sinh đường hô hấp bằng cách xúc miệng, nhỏ mũi thường xuyên. Không ho khạc, nhổ bừa bãi. Cần chú ý bổ sung dinh dưỡng đầy đủ để tăng cường sức khỏe.

Những trường hợp thăm khám tại viện nếu bác sĩ thấy có bằng chứng bội nhiễm cần phải sử dụng kháng sinh. Hoặc trong trường hợp tiến triển nặng cần sử dụng thuốc kháng virus trên cơ địa từng bệnh nhân sẽ được bác sĩ chỉ định thích hợp, tuyệt đối không tùy tiện tự ý sử dụng thuốc.

– Người bệnh cần nghỉ ngơi nhiều hơn, giữ không gian sống sạch sẽ, thoáng mát. Cần uống nhiều nước, chia nhỏ các bữa ăn trong ngày, chú ý đến bổ sung các loại khoáng chất, vitamin giúp tăng đề kháng, tăng miễn dịch và ngăn ngừa biến chứng do virus.

– Để phòng ngừa cúm trong đó có cúm B cần tiêm vaccin để bảo vệ cơ thể. Với khuyến cáo tất cả mọi người, nhất là trẻ nhỏ, người cao tuổi, người có bệnh lý nền nên tiêm phòng cúm hàng năm để tự bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng. Điều này giúp giảm nhẹ hơn các triệu chứng, giảm nguy cơ các biến chứng nặng và thời gian bị bệnh ngắn hơn so với người chưa tiêm vaccine phòng bệnh.