Tag Archives: tim mạch

(Báo Dân Trí) Để có một trái tim khỏe hãy đến với Bệnh viện Đông Đô

Bệnh viện Đông Đô là Bệnh viện tư nhân đầu tiên tại miền bắc chuyên tư vấn, điều trị và phẫu thuật các bệnh lý về tim mạch với chất lượng cao và dịch vụ tốt nhất, đáp ứng mọi nhu cầu về tim mạch của người dân hiện nay

Trên thế giới hiện nay, các bệnh tim mạch bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu tại 8 tỉnh, thành cho thấy, tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch đang có xu hướng trẻ hóa. Nếu như những năm 60 của thế kỷ trước, tỷ lệ mắc bệnh này ở độ tuổi 25 chỉ chiếm 1,5%, sang những năm 80 tỷ lệ này là 11,5% thì đến năm 2010, con số này đã tăng lên đến 25,1%. Một thực tế nữa là, ước tính mỗi năm cả nước có khoảng 16.000 – 20.000 trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh ra đời, nếu không được phẫu thuật sẽ có nhiều biến chứng nghiêm trọng khiến bệnh nhi có thể tử vong.

Thực trạng trên cho thấy nhu cầu khám chữa bệnh liên quan đến tim mạch của người dân là rất cao. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng nhu cầu đó vẫn còn thấp do tình trạng quá tải thường xuyên diễn ra tại các bệnh viện trung ương, chất lượng dịch vụ cũng chưa cao. Do đó, việc khai trương Bệnh viện Đông Đô chuyên khoa về tim mạch trong tháng 10/2011 do tư nhân đứng ra thành lập đã góp phần giải quyết được tình trạng này và góp phần cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao cho người dân. Đồng thời, mang lại các điều kiện khám chữa bệnh tốt nhất Việt Nam về tim mạch hiện nay.

Bệnh viện được chia thành các khu chức năng riêng biệt nhằm tạo sự thuận tiện cho việc chăm sóc bệnh nhân, gồm: Khu khám bệnh, Khu xét nghiệm; Khu phẫu thuật; Khu can thiệp mạch; Khu điều trị nội trú và Khu Quốc tế. Đặc biệt tại Khu phẫu thuật cho phép thực hiện đầy đủ mọi nhu cầu phẫu thuật về tim mạch như các phẫu thuật điều trị các bệnh tim bẩm sinh, phẫu thuật thay hoặc sửa van tim, phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành, các phẫu thuật mạch máu hay các phẫu thuật lồng ngực khác…

Bệnh viện Đông Đô có trang thiết bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, đội ngũ y bác sỹ chuyên môn cao, các chuyên gia, điều dưỡng và hướng dẫn viên với trình độ chuyên môn giỏi trong nhiều lĩnh vực chuyên ngành sâu của tim mạch cùng với phong cách chăm sóc và phục vụ chuyên nghiệp. Ngoài ra, Bệnh viện còn được hỗ trợ chuyên môn từ các bệnh viện tim mạch đầu ngành tại Hà Nội như: Viện Tim Mạch quốc gia, Bệnh viện Tim Hà Nội… Đặc biệt là có sự tham gia khám, chữa bệnh của các bác sỹ như GS Nguyễn Lân Việt – Nguyên Viện trưởng viện tim mạch quốc gia- Chủ tịch hội tim mạch VN,GS Đỗ Doãn Lợi- Viện trưởng viện tim mạch quốc gia, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng – Trưởng phòng tim mạch can thiệp Viện tim mạch Quốc gia… Tại bệnh viện Đông Đô, người bệnh hoàn toàn có thể lựa chọn bác sỹ điều trị cho mình. Nhiều chuyên gia nước ngoài cũng được mời đến trực tiếp làm việc phục vụ nhu cầu người bệnh và đào tạo liên tục phát triển kỹ thuật cho đội ngũ y bác sỹ của bệnh viện.

Đặc biệt, điều được người dân quan tâm và đánh giá cao tại Bệnh viện là các thủ tục hành chính được đơn giản hóa, đội ngũ hướng dẫn viên tận tình, chu đáo và chuyên nghiệp. Hơn thế nữa, Bệnh viện Đông Đô chấp nhận tất cả các hình thức chi trả bằng bảo hiểm y tế, tiền mặt, thẻ tín dụng hoặc chuyển khoản. Bệnh viện cũng áp dụng chi trả trọn gói cho cá nhân, gia đình và cơ quan có nhu cầu.

Để có một trái tim khỏe hãy đến với Bệnh viện Đông Đô.

http://dantri.com.vn/tu-van/de-co-mot-trai-tim-khoe-hay-den-voi-benh-vien-tim-dong-do-1336401214.htm

Mọi thông tin xin liên hệ:

Bệnh viện Đông Đô cứu sống thành công nhiều ca bệnh phức tạp

PNTĐ-Mặc dù BV Đông Đô chỉ mới đi vào hoạt động được hơn 1 năm nhưng BV đã mổ thành công nhiều trường hợp mắc bệnh tim mạch khó và phức tạp.

“Bắc” thành công 3 cầu động mạch vành ở BN nặng

Bệnh nhân (BN) Nguyễn Văn Ngưu (75 tuổi, Hạ Đình, Q. Thanh Xuân, Hà Nội) mắc bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não vào cấp cứu trong tình trạng suy tim. BN suy tim trên bệnh cảnh bệnh 3 thân động mạch, viêm phổi bệnh viện; suy thận độ 3, nhiều nơi không nhận điều trị vì bệnh nhân quá nặng. Ca mổ kéo dài trong 5 giờ với sự tham gia của nhiều bác sĩ, chuyên gia đầu ngành về tim mạch và đã “bắc” thành công 3 cầu động mạch vành cho BN. Sau 1 tháng điều trị hồi sức, tuần qua, BN ra viện sức khỏe phục hồi tốt.
Theo Ths BS Nguyễn Văn Mão – Chủ tịch HĐQT – GĐ BV Đông Đô: Những trường hợp BN mắc bệnh tim mạch đặc biệt khó như thế không phải là hiếm gặp ở BV. Hơn 1 năm thành lập (từ tháng 11/2011 đến nay), BV điều trị phẫu thuật cho gần 100 trường hợp. Với trang thiết bị đầy đủ và hiện đại, BV đã phẫu thuật thành công cho bệnh nhân có 5 cầu nối mạch vành; thay và sửa van tim; các cháu nhỏ mắc tim bẩm sinh phức tạp, nhẹ cân: bệnh Fallot 4, thất phải 2 đường ra.
Ths.BS Nguyễn Văn Mão- Giám đốc Bệnh viện đang tiến hành một ca phẫu thuật tim
Tiêu biểu là tuần qua, BV đã tiến hành mổ cho BN nhí Đỗ Thị Thảo Linh (3 tháng tuổi, nặng 4,3kg) mắc bệnh tim bẩm sinh phức tạp: thất phải 2 đường ra, thông liên thất, còn ống động mạch, đảo ngược phủ tạng. Các bác sĩ hội chẩn và quyết định mổ cho bé Thảo, dù được xác định là ca bệnh rất nặng, khả năng tử vong cao. Ca mổ kéo dài nhiều giờ, trong quá trình mổ lại nảy sinh một số vấn đề như BN suy hô hấp, giảm cung lượng tim… Hiện bé Thảo Linh đã qua cơn nguy kịch và đang trong giai đoạn phục hồi.

Điều trị thành công những ca bệnh khó như vậy, là do BV có được đội ngũ y bác sĩ, cố vấn, chuyên gia đầu ngành về nội tim mạch, phẫu thuật tim mạch và tim mạch can thiệp ở Hà Nội như Viện Tim mạch quốc gia; BV Tim Hà Nội ; BV Việt Đức… như GS Phạm Gia Khải, GS Nguyễn Lân Việt, PGS Đỗ Doãn Lợi… Ths BS Nguyễn Văn Mão – chuyên gia tim mạch đã từng công tác tại BV Việt Đức, nguyên GĐ BV Tim HN, giờ là chuyên gia phẫu thuật chính của BV. BV còn có đội ngũ gây mê, hồi sức, vận hành máy tim phổi nhân tạo, giàu kinh nghiệm được đào tạo bài bản phục vụ trong phẫu thuật tim hở.

Chi phí phẫu thuật thấp hơn hàng chục lần so với nước ngoài

Hoạt động với mô hình BV khách sạn, BV Đông Đô (số 9A-B, Phan Chu Trinh, Hà Nội) có diện tích xây dựng 4.668 m2  với 150 giường bệnh; khu phòng khám, khoa ngoại chăm sóc được 50 BN chuẩn bị mổ; khu phẫu thuật với 2 phòng mổ tim mở và 1 phòng mổ về mạch máu và các bệnh lý lồng ngực khác; khu hậu phẫu; khu tim mạch can thiệp được trang bị nhiều máy móc hiện đại như máy chụp mạch, chẩn đoán điều trị tim bẩm sinh trẻ em như bít ống động mạch, thông liên nhĩ, thất.
Đối với người lớn, BV tiến hành nong và đặt stent mạch vành, đặt stent graft cho những trường hợp phình tách động mạch chủ, nong van 2 lá, van động mạch phổi và nhồi máu cơ tim bằng tế bào gốc; điều trị các rối loạn về nhịp tim bằng sóng cao tần, cấy máy tạo nhịp tim cho BN. Những BN đến khám và phẫu thuật tại BV đều được chi trả BHYT, giảm gánh nặng bệnh tật cho người bệnh. Chi phí cho một ca mổ thay van tim khoảng 70 triệu đồng nhưng được BHYT chi trả 30 triệu đồng, người bệnh chỉ còn phải đóng 40 triệu đồng. Chi phí này tương đương với chi phí của các trung tâm tim mạch khác nhưng thấp hơn hàng chục lần so với ở nước ngoài.

BV vẫn thường xuyên tổ chức khám từ thiện ở các địa phương và Hà Nội để phát hiện kịp thời các cháu nhỏ mắc bệnh tim bẩm sinh ở lứa tuổi học đường. Ths BS, Nguyễn Văn Mão tâm sự: “Xây dựng BV chuyên ngành tim mạch là nối tiếp tâm nguyện được cứu người trước đây của tôi và nhiều đồng nghiệp. Cả một đời gắn bó với chuyên ngành tim mạch, tôi thấy rất nhiều trẻ em mắc tim bẩm sinh cần được mổ; người già chưa được chăm sóc sức khỏe về tim mạch… Tôi cũng như toàn thể các y bác sĩ của BV Tim Đông Đô mong muốn góp sức cứu thêm được nhiều BN, nhất là BN nghèo và trẻ em bị mắc bệnh tim mạch”.

Tâm Thanh
Báo Phụ nữ Thủ đô, 20/12/2012
http://baophunuthudo.vn/sites/ePaper/PNTD/Detail.aspx?ArtId=15527

Hiểu rõ về bệnh tứ chứng Fallot (Tetralogy of fallot)

Fallot 4 là một bệnh tim bẩm sinh, có tím, phổi sáng (do thiếu máu lên phổi). Năm 1888, ông Fallot là người đầu tiên mô tả đầy đủ triệu chứng của bệnh Fallot 4 . Sau đó đến năm 1945, ông Alfred Blalock và bà Helen Taussig đã đề xuất ra phẫu thuật làm cầu nối giữa động mạch chủ và động mạch phổi để điều trị tạm thời Fallot 4 và phẫu thuật này có tên “Blalock – Taussig”

Bệnh Fallot 4 (F4) gặp ở 3 trên 1000 trẻ đang sống và chiếm 7-10% tất cả các bệnh tim bẩm sinh

Bệnh Fallot 4 cần phải can thiệp sớm nếu không tỉ lệ tử vong rất cao, thậm chí có những bệnh nhân phải can thiệp ngay sau khi đẻ

Thương tổn giải phẫu bệnh

Bệnh bao gồm 4 thương tổn sau:

  • Thông liên thất (CIV) cao, phần lớn ở vùng quanh màng
  • Động mạch chủ lệch phải (cưỡi ngựa lên vách liên thất). Bình thường động mạch chủ chỉ hứng máu ở thất trái, khi lệch phải thì hứng máu cả thất trái và thất phải.
  • Hẹp phổi: bao gồm hẹp đường ra thất phải (phễu động mạch phổi), hẹp vòng van, lỗ van động mạch phổi, hẹp thân hoặc nhánh động mạch phổi)
  • Dày thất phải
Hiểu rõ về bệnh tứ chứng Fallot (Tetralogy of fallot)

Bệnh Fallot 4 có thể có các thương tổn phối hợp khác bao gồm:

  • Bất thường của động mạch vành
  • Còn ống động mạch (PCA)
  • Không có hợp lưu của động mạch phổi
  • Động mạch chủ quay bên phải
  • Tuần hoàn bàng hệ chủ phổi (MAPCA)

Tiến triển của bệnh Fallot 4

Bệnh có thể diễn biến như sau:

  • Tím ngày càng tăng, hồng cầu trên 7 triệu, có cơn ngất hoặc xỉu do thiếu oxy não
  • Hoạt động thể lực hạn chế do thiếu oxy mạn tính (tổ chức thiếu oxy) – áp-xe não do tách động mạch não
  • Thay đổi tuần hoàn mao mạch phổi nên bệnh nhân có thể ho ra máu
  • Bệnh cơ tim thứ phát có thể xuất hiện sau nhiều năm tiến triển
  • Bệnh nhân rất dễ bị lao phổi

Nếu bệnh Fallot 4 không được điều trị kịp thời thì sẽ dẫn đến tử vong

Lâm sàng

  • Tím thường hay gặp ở môi, đầu ngón tay/chân. Tím tăng dần và rõ hơn khi trẻ khóc hoặc hoạt động gắng sức

  • Dấu hiệu ngồi xổm: ngồi xổm thường làm giảm tím và khó thở (do giảm luồng shunt phải trái đưa đến tăng máu lên phổi
  • Cơn tím thường xuất hiện ở trẻ 6-12 tháng tuổi, có thể có ngất hoặc vắng ý thức nhất thời do thiếu máu não.
  • Móng tay khum tròn giống mặt kính đồng hồ, đầu ngón tay to hình dùi trống
  • Sờ tay thì có rung miu (cảm giác như đặt bàn tay lên lưng con mèo) ở giữa và bờ trái xương ức
  • Nghe tim thì tiếng T2 mờ và không tách đôi
  • Thổi tâm thu lớn ở 1/3 giữa bên trái xương ức

Cận lâm sàng

  • Xét nghiệm máu: số lượng hồng cầu tăng cao, Hematocrite tăng. Nểu số lượng hồng cầu tăng trên 6 triệu, Hematocrite tăng trên 60% thì dễ tắc mạch não gây áp-xe não.
  • Điện tim: trục lệch bên phải, dày phì đại thất phải.
  • X-quang tim phổi: cung giữa bên trái (động mạch phổi) lõm, thất phải dày đẩy lệch mỏm tim hếch lên trên, bóng tim có hình chiếc ủng. Quai động mạch chủ lệch phải (chiếm khoảng 25%)
  • Siêu âm tim qua siêu âm 2D và Doppler: đây là 1 thăm dò quan trọng và mang tính chất quyết định trong việc chẩn đoán và tiên lượng bệnh Fallot 4

Siêu âm tim xác định được:

+ Lỗ thông liên thất cao: lớn hay bé: động mạch chủ lệch phải nhiều hay ít

+ Hẹp phổi: đánh giá được mức độ hẹp, vị trí hẹp ở phễu thất phải

+ Mức độ hẹp ở vòng van động mạch phổi, thương tổn van động mạch phổi và kích thước của hệ thống động mạch phổi

+ Xác định được bất thường của động mạch vành nhất là nhánh bất thường của động mạch vành phải đi ngang qua phễu thất phải

+ Phát hiện tổn thương phối hợp khác: thông liên thất phần cơ, thông liên nhĩ (CIA), bất thường tĩnh mạch chủ trên bên trái,…

  • Thông tim: trước khi phẫu thuật các bệnh nhân Fallot 4 nên được thông tim để đánh giá được toàn bộ hệ thống động mạch phổi (quyết định phương pháp phẫu thuật) giúp xác định được vị trí xuất phát và đường đi bất thường của động mạch vành . Qua thông tim có thể đo được thông số huyết động và chụp buồng tim giúp đánh giá tất cả các thương tổn

Điều trị

Điều trị Nội khoa

  • Điều trị cơn tím ngất do thiếu oxy, có thể đưa trẻ lên vai hoặc cho trẻ ngồi đầu gối tì vào ngực, tiêm Morphin Sulfat dưới da/bắp, điều trị nhiễm toan bằng Natri Bicarbonat có thể Propranolol
  • Thở oxy cần hạn chế vì trong bệnh lý này nguyên nhan do giảm máu lên phổi chứ không phải thiếu cung cấp oxy từ ngoài vào
  • Điều trị dự phòng bằng cách hòa loãng máu (truyền huyết thanh) nếu số lượng hồng cầu trên 7 triệu hoăc Hematocrite trên 70%

Điều trị ngoại khoa

Tùy vào thương tổn giải phẫu nhất là hệ thống động mạch phổi, các thương tổn phối hợp, tình trạng bệnh nhân, khả năng phẫu thuật và gây mê hồi sức mà lựa chọn phẫu thuật tạm thời hay sửa toàn bộ ngay

  • Phẫu thuật tạm thời nhằm mục đích tăng máu lên phổi, dựa vào chỉ số Z value hoặc chỉ số Mac Goon để quyết định. Các phẫu thuật thường được dùng trong điều trị tạm thời Fallot 4 bao gồm:

+ Cầu nối Blalock – Taussig kinh điển là cắt nối động mạch dưới đòn với động mạch phổi cùng bên

+ Có thể làm cầu nối bằng đoạn mạch nhân tạo (thường là Gore – tex) giữa động mạch dưới đòn và động mạch phổi cùng bên

+ Phẫu thuật Potts nối giữa động mạch chủ xuống và động mạch phổi trái

+ Waterston: nối động mạch chủ lên và động mạch phổi phải

Hai phẫu thuật Potts và Waterston ngày nay ít được sử dụng. Ngoài ra, ngày nay có thể làm cầu nối trực tiếp bằng đoạn mạch nhân tạo giữa động mạch chủ lên và thân động mạch phổi chờ đến khi hệ thống động mạch phổi phát triển cho phép sửa toàn bộ.

  • Phẫu thuật sửa toàn bộ: mở rộng đường ra thất phải bằng việc cắt tổ chức cơ phần phễu, có thể khoét cơ phần phễu qua đường động mạch phổi hoặc qua đường van ba lá. Ngày nay, phẫu thuật mở qua vòng van động mạch phổi bị hạn chế để tránh bệnh nhân suy tim sau mổ. Thường thì bác sỹ đặt một miếng Patch (miếng vá nhân tạo) hoặc màng tim được xử lý với Glutaraldhehyde. Phẫu thuật sửa toàn bộ được thực hiện dưới sự hỗ trợ của tim phổi máy. Tỉ lệ tử vong sau phẫu thuật từ 1-5% và có thể có một số biến chứng như: block nhĩ thất, lỗ thông liên thất tồn lưu hoặc còn hẹp phổi (chênh áp giữa thất phải và động mạch phổi còn cao) nên thường phải mổ lại ở những trường hợp này.

Vừa qua tại Bệnh viện Đông Đô, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân Nguyễn Văn H. (19 tuổi – Nam Định). Bệnh nhân đã khám ở nhiều nơi nhưng chỉ được chẩn đoán bị bệnh tim bẩm sinh và không được phát hiện Fallot 4.

Bệnh nhân có triệu chứng ngày càng mệt, tím nhiều, khó thở nên đã đến chúng tôi khám. Sau khi thăm khám và làm các thăm dò, bệnh nhân được chẩn đoán bị bệnh Fallot 4 điển hình, với các thương tổn như sau:

  • Thông liên thất phần màng rộng 2.6cm
  • Động mạch chủ lệch bên phải 40%
  • Hẹp nhiều đường ra thất phải nhưng hệ thống động mạch phổi tương đối tốt, dày nhiều thất phải
  • Số lượng hồng cầu: 6.1 triệu
  • Hematocrite: 57%
  • Môi và đầu chi tím nặng, ngón tay/chân dùi trống

Bệnh nhân đã được phẫu thuật sửa toàn bộ khoảng trung tuần tháng 7 năm 2017 tại Bệnh viện Đông Đô. Với sự giúp đỡ của tim phổi máy, chúng tôi đã sửa chữa toàn bộ các thương tổn của Fallot 4 (vá thông liên thất bằng màng tim được xử lý với Glutaraldhehyde, khoét mở rộng đường ra thất phải qua đường động mạch phổi). Kết quả sau mổ rất tốt, hầu như không còn chênh áp giữa thất phải và động mạch phổi. Bệnh nhân ra viện sau 8 ngày điều trị với kết quả siêu âm kiểm tra tốt:

  • Vách liên thất kín hoàn toàn, không còn shunt tồn lưu
  • Chênh áp thất phải và động mạch phổi: 8mmHg
  • Van động mạch phổi kín

Bệnh Fallot 4 là một bệnh tim bẩm sinh tương đối nặng và tỉ lệ tử vong cao, sớm sau khi mới sinh ra. Vì vậy, các bà mẹ cng như các trung tâm y tế cần chú ý khi một cháu bé đẻ ra có tím ở môi hoặc đầu ngón tay/chân, sờ vào ngực ở phía trước xương ức có rung miu hoặc nghe thấy một tiếng thổi lớn ở giữa và cạnh bên trái xương ức thì phải đưa bệnh nhi đến trung tâm tim mạch để được chẩn đoán và can thiệp sớm

Trên thế giới hầu hết các bệnh nhân Fallot 4 được điều trị rất sớm, có rất ít bệnh nhân Fallot 4 cao tuổi (Fallot già). Nhưng ở Việt Nam nhiều bệnh nhân đến khám muộn, nhiều trường hợp Fallot già khiến phẫu thuật khó khăn hơn, kết quả bị hạn chế.

Chúng tôi tự hào với đội ngũ Giáo sư, Tiến sĩ, chuyên gia về ngành tim mạch Nội – Ngoại khoa, Phẫu thuật viên,.. được đào tạo bài bản, nhiều kinh nghiệm cùng hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, tiên tiến đã thực hiện nhiều ca phẫu thuật bệnh Fallot 4 – một trong những phẫu thuật khó hiện nay, vậy nên chúng tôi sẵn sàng thực hiện phẫu thuật cho các bệnh nhân tim bẩm sinh ở mọi lứa tuổi.

Đặc biệt Phẫu thuật viên chính – ThS.BS. Nguyễn Văn Mão của Bênh viện Đông Đô đã có 4 năm đào tạo phẫu thuật tim và lồng ngực tại Pháp, trên 40 năm kinh nghệm trong ngành Phẫu thuật tim, đã tiến hành hàng nghìn ca phẫu thuật cho các loại bệnh tim bẩm sinh cũng như mắc phải và đạt kết quả tốt

Với 1 đội ngũ hùng hậu như vậy, chúng tôi tin rằng Bệnh viện Đông Đô luôn là địa chỉ tin cậy cho các bệnh nhân tim mạch trên cả nước.

Để nhận thêm thông tin tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Phương pháp sử dụng tế bào gốc trong điều trị suy tim

Ngày nay, mặc dù đã có những tiến bộ mới trong điều trị nhồi máu cơ tim, vẫn có khoảng 10-15% số bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp sau khi được điều trị, can thiệp động mạch vành tích cực bị suy thất trái nặng. Phương pháp sử dụng tế bào gốc đang là một sự lựa chọn có hiệu quả cho những bệnh nhân này.

Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Năm 2015 ước tính có khoảng 17,7 triệu người tử vong do bệnh lý này, chiếm 31% số ca trên toàn thế giới. Trong số đó 7,4 triệu là do bệnh mạch vành (bệnh lý gây hẹp/tắc động mạch vành). Đồng thời, tính đến năm 2015, trên thế giới có đến 26 triệu bệnh nhân suy tim. Tại Việt Nam, theo thống kê của bộ Y tế, bệnh tim mạch cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, chiếm 1/4 số ca hàng năm. Như vậy, suy tim và đặc biệt là suy tim do bệnh lý mạch vành đang là một vấn đề cấp thiết ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

Hiện nay, các tiến bộ trong y học đã cho phép các bác sĩ đặt stent và mổ bắc cầu nối chủ – vành để tái thông động mạch vành, giúp giải quyết tận gốc bệnh lý mạch vành. Tuy nhiên, trong số này vẫn còn 10-20% bệnh nhân bị suy tim dù đã được điều trị bằng các phương pháp tiên tiến nhất. Chính vì vậy, điều trị tế bào gốc đã trở thành một phương pháp “cứu cánh” cho các trường hợp này.

Vừa qua, Bệnh viện Đông Đô đã thực hiện một ca can thiệp điều trị suy tim do bệnh mạch vành bằng tế bào gốc do PGS.TS. Phạm Mạnh Hùng (Tổng thư kí Hội Tim mạch Việt Nam) tiến hành. Bệnh nhân được điều trị là ông Đặng Vũ S. (58 tuổi – Lạc Long Quân – Hà Nội). Tháng 6/2016, ông S. được chẩn đoán bệnh mạch vành và được đặt stent nhánh liên thất trước vào tại một bệnh viện địa phương. Tuy nhiên, sau khi ra viện, ông liên tục có những đợt suy tim phải tái nhập viện nhiều lần nhưng vẫn không thể điều trị triệt để. Thời gian gần đây, tình trạng suy tim nặng hơn, gây khó khăn cho sinh hoạt cá nhân thường ngày. Tháng 9/2017, ông đến bệnh viện Đông Đô khám. Sau khi thăm khám, làm xét nghiệm máu, điện tâm đồ và siêu âm tim, ông được chẩn đoán Suy tim do bệnh mạch vành – Suy thận – Đái tháo đường. Các bác sĩ xác định tình trạng suy tim của ông rất nặng, chức năng tim chỉ còn bằng 1/3 người bình thường. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ đã quyết định tiến hành áp dụng phương pháp điều trị tế bào gốc cho ông.

Can thiệp điều trị suy tim do bệnh mạch vành bằng tế bào gốc tại Bệnh viện Đông Đô

Phương pháp điều trị tế bào gốc được thực hiện từng bước như sau:

– Bệnh nhân được chụp lại động mạch vành và buồng tim qua đường ống thông để đánh giá tình trạng mạch vành và chức năng tim.

– Sau khi xác định bệnh nhân đủ tiêu chuẩn để điều trị tế bào gốc, bệnh nhân được lấy tủy xương tại phòng mổ và tách chiết, cô đặc dịch tủy xương tại khoa Huyết học.

– Sau đó, tiến hành ghép (bơm dung dịch tế bào gốc đã được tách lọc) vào động mạch vành (động mạch liên thất trước) chi phối vùng nhồi máu cơ tim. Trong thủ thuật này, bóng nong động mạch vành được bơm căng để gây tắc tạm thời động mạch vành – thủ phạm gây nhồi máu cơ tim, sau đó truyền tế bào gốc qua nòng của quả bóng nhằm kéo dài tối đa thời gian tiếp xúc giữa các tế bào gốc và mạng lưới vi mạch của động mạch vành bị nhồi máu.

Với kỹ thuật này, các tế bào gốc sẽ tạo ra các tế bào cơ tim mới, thay thế các tế bào cơ tim đã chết do nhồi máu cơ tim. Sau khi điều trị, chức năng tim có thể hồi phục lại bình thường giúp bệnh nhân giảm suy tim và có thể thực hiện các sinh hoạt cá nhân bình thường.

Can thiệp điều trị suy tim do bệnh mạch vành bằng tế bào gốc tại Bệnh viện Đông Đô

Sau điều trị bằng tế bào gốc, bệnh nhân S. nằm theo dõi tại viện 2 ngày và được điều chỉnh tối ưu hóa các thuốc nội khoa. Trước khi bệnh nhân ra viện, các bác sĩ đã khám kiểm tra lại. Kết quả siêu âm tim cho thấy chức năng tim của bệnh nhân đã bắt đầu tăng lên bằng 1/2 người bình thường. Bệnh nhân đỡ khó thở, thực hiện các sinh hoạt cá nhân bình thường.

Bệnh viện Đông Đô tự hào với đội ngũ Giáo sư, Tiến sĩ, chuyên gia về ngành tim mạch Nội – Ngoại khoa, Phẫu thuật viên,.. được đào tạo bài bản, nhiều kinh nghiệm cùng hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, tiên tiến. Bệnh viện chúng tôi đã thực hiện thành công nhiều ca can thiệp, phẫu thuật tim phức tạp.

Với 1 đội ngũ hùng hậu như vậy, chúng tôi tin rằng Bệnh viện Đông Đô là địa chỉ tin cậy cho các bệnh nhân tim mạch trên cả nước.