All posts by admin

Bệnh động mạch chi dưới

Bệnh động mạch chi dưới là tình trạng bệnh lý xảy ra khi lòng động mạch bị tắc hoặc hẹp nhiều, làm giảm cấp máu cho chân, gây ra các triệu chứng như đau, loét ngón, dẫn đến nguy cơ cắt cụt chi (chiếm tỷ lệ khoảng 3-4 % tổng số ca bệnh).

Nguyên nhân chính của bệnh là xơ vữa động mạch với các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, hút thuốc, thừa cân/béo phì, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp… Xơ vữa động mạch là bệnh lý toàn thân nên ngoài triệu chứng ở chân và nguy cơ cắt cụt chi, hơn 60% người bệnh động mạch chi dưới có các biểu hiện khác ở não và/hoặc tim như đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp, cơn đau thắt ngực, tai biến mạch máu não thoáng qua…làm tăng nguy cơ tử vong.

Người bệnh mắc bệnh động mạch chi dưới thường than phiền về sự suy giảm khả năng vận động chi dưới ở các mức độ khác nhau, điển hình là những cơn đau cách hồi chi dưới (đau kiểu chuột rút ở một nhóm cơ vùng mông, đùi, bắp chân khi đi hoặc chạy được 1 quãng đường nhất định, đỡ hoặc hết khi nghỉ, rồi lại xuất hiện triệu chứng với quãng đường tương tự). Nặng hơn, chân bên bệnh đau cả khi nghỉ ngơi, tăng lên về đêm, bàn chân tím, lạnh, ngón chân rất dễ loét ngay cả khi chỉ bị xây xước nhỏ, các vết loét lâu liền sẹo, dẫn đến mưng mủ và hoại tử. Khi đó, ngoài các biện pháp điều trị về nội khoa hay can thiệp, phẫu thuật tái thông dòng máu, buộc phải xem xét khả năng cắt cụt để cứu tính mạng người bệnh.

Trên thực tế, nhiều bệnh nhân mắc bệnh động mạch chi dưới đến bệnh viện ở giai đoạn muộn do bị nhầm lẫn với biểu hiện của một số bệnh lý khác như đau thần kinh toạ, thoái hoá khớp, bệnh lý bàn chân đái tháo đường … Vì vậy, tất cả những người có nhiều nguy cơ bị xơ vữa động mạch, như:

  • Người dưới 50 tuổi kèm theo đái tháo đường và hút thuốc lá hoặc rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp
  • Người trong độ tuổi 50 đến 64 tuổi, có đái tháo đường hoặc hút thuốc lá hoặc yếu tố nguy cơ tim mạch khác
  • Người từ 65 tuổi trở lên
  • Người có đau chi dưới khi vận động (đau cách hồi), có bệnh động mạch vành, tiền sử đột quỵ do xơ vữa …

đều nên đi khám và sàng lọc chẩn đoán sớm bệnh động mạch chi dưới.

.

Bệnh viện Đông Đô – Nơi trao gửi niềm tin, hi vọng

Chăm sóc tận tâm, nâng tầm giá trị!

Bệnh viện Đông Đô được biết đến là địa chỉ thăm khám điều trị uy tín, tin cậy. Bởi không ngừng cải tiến dịch vụ, chất lượng cơ sở vật chất và trình độ, bệnh viện luôn là nơi trao gửi niềm tin của người bệnh. Như lời người nhà bệnh nhân L.V.H (đến từ Hà Tĩnh) chia sẻ: “khi bước qua cánh cửa Đông Đô, là trao hết niềm tin cho các bác sĩ Đông Đô rồi”. Tận tâm chăm sóc sức khỏe người bệnh là nhiệm vụ và mục tiêu cao đẹp của bệnh viện. Cảm ơn người bệnh và gia đình đã luôn tin tưởng chúng tôi. 

 

Hiện tại, các gói khám tổng quát tại BV Đông Đô đang được ưu đãi về chi phí. Để bảo vệ sức khỏe, mỗi người tốt nhất nên chọn gói khám sức khỏe, danh mục khám phù hợp với độ tuổi, nhu cầu và khả năng tài chính của mình. Thực hiện thăm khám định kỳ là cách để giữ gìn và chăm sóc sức khỏe tốt nhất. 

Thông tin các gói khám xem thêm tại:https://www.facebook.com/benhviendongdoHN/photos/a.2180699335290508/6851142271579501/

Những điều cần biết về rung nhĩ

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở người trưởng thành với tỷ lệ 2-4 %, khoảng 43,6 triệu người trên thế giới (năm 2016). Tỷ lệ mắc rung nhĩ tăng theo tuổi, khoảng gần 10 % người trên 80 tuổi mắc rung nhĩ, tỷ lệ mắc rung nhĩ tăng gấp 10 lần ở nhóm trên 65 tuổi.

Khi bị rung nhĩ, hai buồng tâm nhĩ không còn co bóp nhịp nhàng mà “rung lên” nên bơm máu không hiệu quả.

Rung nhĩ là bệnh lý rối loạn nhịp tim xuất phát từ tâm nhĩ khi các hoạt động điện đồng bộ bị thay thế bằng các hoạt động điện hỗn loạn, dẫn đến sự co bóp mất đồng bộ và làm giãn tâm nhĩ. Xung động điện hình thành rất nhanh (thường > 400 lần/phút) và không đều.

Các nguyên nhân thường gặp là:

  • Bệnh van tim hậu thấp như: hẹp, hở van hai lá; hẹp, hở van động mạch chủ…
  • Suy tim
  • Bệnh động mạch vành và các bệnh lý liên quan xơ vữa động mạch
  • Bệnh tim bẩm sinh
  • Bệnh cơ tim, viêm cơ tim…
  • Tăng huyết áp
  • Đái tháo đường
  • Bệnh lý tuyến giáp
  • Bệnh phổi mạn tính
  • Ngừng thở khi ngủ

Triệu chứng thường gặp: Cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh và không đều, cảm giác mệt và hụt hơi. Trong những trường hợp nhịp tim nhanh có thể có biểu hiện choáng, thỉu,…

Một số ít các trường hợp rung nhĩ biểu hiện đầu tiên bằng các biến chứng như đột quỵ não, suy tim, tắc mạch hệ thống.

Chính vì các biến chứng nặng nề liên quan đến rung nhĩ và hậu quả của nó, người bệnh cần được phát hiện sớm và điều trị thích hợp để phòng ngừa các hậu quả xấu về sau. Người bệnh nguy cơ cao như có bệnh lý van tim từ trước, suy tim, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính,… cần được đi khám định kì để sàng lọc rối loạn nhịp.

Trong chẩn đoán, người bệnh có thể cần làm một số xét nghiệm máu chuyên sâu, điện tâm đồ, siêu âm tim. Trong nhiều trường hợp người bệnh cần theo dõi điện tim lâu dài để chẩn đoán các cơn rung nhĩ ngắn, tần suất xuất hiện thưa thớt như kĩ thuật ghi điện tim 24 giờ, kĩ thuật cấy máy theo dõi nhịp tim liên tục.

Quá trình điều trị cần phải đảm bảo tuân thủ đúng phác đồ và quy trình theo dõi của bác sĩ. Mục tiêu điều trị hướng tới 3 vấn đề chính :

  • Điều trị dự phòng đột quỵ do tắc mạch bằng các thuốc chống đông nếu cần.
  • Điều trị giảm triệu chứng bằng các thuốc/phương pháp kiểm soát tần số thất và chuyển nhịp.
  • Điều trị các bệnh lý đi kèm.

Thời gian làm việc kéo dài làm tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim và đột quỵ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thời gian làm việc kéo dài làm gia tăng tử vong do bệnh tim và đột quỵ…
Trong một phân tích toàn cầu đầu tiên về sức khỏe liên quan đến làm việc nhiều giờ, WHO và ILO ước tính rằng, trong năm 2016, có 398.000 người chết vì đột quỵ và 347.000 người vì bệnh tim do làm việc ít nhất 55 giờ/ tuần. Từ năm 2000 đến năm 2016, số người chết vì bệnh tim do làm việc nhiều giờ đã tăng 42% và do đột quỵ là 19%.
Gánh nặng bệnh tật liên quan đến làm việc nhiều giờ đặc biệt đáng kể ở nam giới (72% số ca tử vong xảy ra ở nam giới), những người sống ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á và người lao động trung niên trở lên. Hầu hết các trường hợp tử vong được ghi nhận là ở những người từ 60-79 tuổi, những người đã làm việc từ 55 giờ trở lên mỗi tuần trong độ tuổi từ 45 đến 74.
Thời gian làm việc kéo dài gây tăng nguy cơ đột quỵ
Làm việc nhiều giờ hiện nay được coi là nguyên nhân của khoảng một phần ba tổng gánh nặng bệnh tật liên quan đến công việc, nó được coi là yếu tố nguy cơ gây ra gánh nặng bệnh nghề nghiệp lớn nhất.
Nghiên cứu kết luận rằng làm việc 55 giờ trở lên mỗi tuần có liên quan đến nguy cơ đột quỵ cao hơn 35% và nguy cơ tử vong do thiếu máu cục bộ cao hơn 17% so với làm việc 35-40 giờ một tuần.
Hơn nữa, số lượng người làm việc nhiều giờ ngày càng tăng, và hiện chiếm 9% tổng dân số toàn cầu. Xu hướng này thậm chí còn khiến nhiều người có nguy cơ bị tàn tật liên quan đến công việc và chết sớm.
Phân tích mới được đưa ra khi đại dịch COVID-19 đã thay đổi đáng kể cách làm việc của nhiều người. Làm việc từ xa thường làm mờ ranh giới giữa gia đình và cơ quan. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô hoặc đóng cửa hoạt động để tiết kiệm chi phí, và những người vẫn đang trong biên chế sẽ phải làm việc nhiều hơn.
Theo các chuyên gia, làm việc 55 giờ hoặc hơn mỗi tuần là một mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với sức khỏe. Đã đến lúc tất cả chúng ta, chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động phải nhận thức rằng, thời gian làm việc kéo dài có thể dẫn đến tử vong sớm; để có thể ban hành, triển khai và thực thi các luật, qui định, chính sách cấm làm thêm giờ bắt buộc và đảm bảo giới hạn tối đa về thời gian làm việc…

Dấu hiệu nhận biết sớm bệnh suy tim

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh.

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp.
Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.
Nguyên nhân là do khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về nên phổi bị ứ huyết. Do đó phổi mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

Đau ngực thường xảy ra sau gắng sức , vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim nhưng cũng có thể là cảm giác nặng ngực, tức ngực, ngực bị thắt nghẹn, bị ép, hiếm khi người bệnh có triệu chứng đau nhói như dao đâm . Đau ngực thường giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc Nitroglycerin

Phù nề. Nguyên nhân của tình trạng phù nề ở bệnh nhân suy tim là do khi tim bị suy giảm chức năng, lưu lượng máu tống đi bị giảm, máu theo đường tĩnh mạch về tim bị ứ đọng lại. Hậu quả là các mao mạch căng lên và gây ra thoát dịch qua thành mao mạch vào các bộ phận lân cận, gây ra phù.

Ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu.

Tình trạng mệt mỏi do suy tim có thể lẫn với các bệnh khác. Tuy nhiên, sự mệt mỏi này ảnh hưởng ngày càng nhiều đến cuộc sống sinh hoạt thường ngày.
Nếu để ý, bệnh nhân sẽ nhận thấy những hoạt động thường ngày thực hiện một cách dễ dàng nhưng dần dần lại cảm thấy khó khăn và mau kiệt sức. Ngay cả các việc nhẹ nhàng, đơn giản hơn như đi bộ, leo cầu thang,… cũng khiến cho bệnh nhân nhanh chóng mệt mỏi.
Nguyên nhân là do khi tim suy yếu, lượng máu bơm đi mỗi lần bị thiếu hụt, dẫn đến tình trạng máu không đủ cung cấp đến khắp các cơ quan trong cơ thể. Chính tình trạng thiếu máu làm cho người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi, sinh hoạt thường ngày trở nên khó khăn. Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể có những biểu hiện của thiếu máu, như suy nhược, suy giảm trí nhớ, chóng mặt, đau đầu,…

GÓI KHÁM CHUYÊN SÂU CƠ XƯƠNG KHỚP

  1. Hiện nay, tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Đông Đô, có các chuyên gia, bác sĩ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, tư vấn nhẹ nhàng, tinh tế.

PGS. TS. Vũ Thị Thanh Thủy, người có chuyên môn đào tạo ở trong nước và quốc tế, bên cạnh việc khám chữa bệnh, PGS còn tích cực tham gia nghiên cứu, và tham gia các khóa đào tạo quốc tế, các tọa đàm, hội thảo được tổ chức tại Việt Nam và nhiều nước khác như Australia, Indonesia, Pháp, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Hồng Kong, Hà Lan. PGS Thủy chuyên về các bệnh về khớp và các bệnh về xương.

Ngoài ra, còn có Ths. Bs. Nguyễn Ngọc Bích, người xuất sắc nhận bằng bác sỹ nội trú tại Trường đại học Paris V Descarte, và tham gia vào các khóa đào tạo tại các trường ĐH ở Úc, Hàn. Bác sĩ chuyên về các bệnh như thoái hóa khớp, đau lưng, đau cổ vai gáy, viêm khớp, loãng xương, Lupus, viêm đa cơ….

2.Cùng sự hỗ trợ của hệ thống thiết bị y tế hiện đại.

Máy chụp X – Quang: Cho hình ảnh chính xác, đánh giá được tình trạng tổn thương ở xương từ các chấn thương của xương cho đến các bệnh lý nhiễm trùng, ký sinh trùng, các loại u xương lành và ác tính cho người bệnh,…

Siêu âm cơ, xương khớp: giúp các bác sĩ nhìn thấy được hình ảnh kết cấu cơ, xương, khớp, gân, dây chằng và dây thần kinh của người bệnh.

Xét nghiệm, chẩn đoán bệnh lý thiếu hụt Vitamin D.

  1. Lên phác đồ điều trị linh hoạt, cá thể hóa và hiệu quả. 

=>Hãy bảo vệ cơ xương khớp của bạn ngay từ bây giờ, duy trì thói quen thăm khám định kỳ, khám và tìm hướng điều trị ngay khi có các triệu chứng bất thường. 

Xem thêm