All posts by admin

Câu hỏi 65: Em tôi bị bệnh hẹp van hai lá ? Có phải là bệnh di truyền không ? Bệnh này như thế nào ?

Phần lớn các trường hợp hẹp van hai lá không phải do di truyền. Nguyên nhân của bệnh hẹp van hai lá hay gặp nhất là thấp tim. Thông thường những bệnh nhân bị hẹp hai lá thường có tiền sử thấp khớp hoặc thấp tim từ nhỏ. Thấp tim gây nên tổn thương van tim và tổ chức dưới van, bệnh tiến triển lâu ngày dẫn đến dày dình các mép van, các cánh van dày, vôi hóa dính lại với nhau gây ra hẹp van hai lá. Rất ít trường hợp hẹp hai lá bẩm sinh, trong trường hợp này, bệnh nhân thường biểu hiện tình trạng chậm phát triển thể chất, bé nhỏ, còi cọc, thường được gọi là “lùn hai lá”

Bệnh hẹp van hai lá là tình trạng giảm diện tích mở lỗ van hai lá do dính dần các mép van, xơ hoá và co rút bộ máy van và dưới van và cuối cùng là tình trạng vôi hoá dày đặc của toàn bộ bộ máy van tim. Hẹp hai lá gây cản trở dòng máu từ nhĩ trái về thất trái.

Khi van hai lá bị hẹp làm cản trở dòng máu từ nhĩ trái xuống thất trái làm nhĩ trái giãn ra tạo thuật lợi cho ứ đọng máu, hình thành huyết khối trong nhĩ có thể có khả năng di chuyển (gây tắc mạch) và gây rối loạn nhịp. Ứ máu ở nhĩ trái làm tăng ứ máu ở phổi là nguyên nhân gây nên khó thở và đặc biệt là cơn khó thở cấp về đêm.Hẹp van hai lá làm hạn chế máu từ nhĩ trái xuống thất trái dẫn đến giảm lượng máu của thất trái đi nuôi cơ thể, người bệnh thường mệt mỏi.

Biểu hiện của bệnh van hai lá có thể diễn biến tiềm tàng trong nhiều năm mà không gây triệu chứng gì. Tuy nhiên trong thời gian đó, chức năng của tim bị sút giảm dần do gánh nặng gia tăng đối với các buồng tim. Hiện tượng xung huyết ở phổi có thể gây khó thở nhất là khi gắng sức hoặc khi nằm đầu bằng trên giường. Tăng áp lực phổi thường dẫn tới triệu chứng ho kéo dài.Hẹp hai lá gây mệt mỏi và có thể phù quanh mắt cá chân. Đôi khi mệt mỏi là dấu hiệu duy nhất của suy tim do tổn thương van hai lá.

Câu hỏi 64: Làm thế nào phát hiện mình bị bệnh van tim ?

Đa số các bệnh lý van tim đều tiến triển từ từ, giai đoạn đầu thường không có triệu chứng gì, đến khi có biểu hiện lâm sàng thường là giai đoạn muộn, đã có suy tim hoặc biến chứng khác. Do đó, khám sức khỏe định kì là biện pháp tốt nhất để phát hiện các bệnh lý tim mạch nói chung cũng như bệnh van tim nói riêng. Khi nghi ngờ có bệnh van tim có rất nhiều phương pháp để xác định từ đơn giản đến các xét nghiệm kỹ thuật cao giúp bác sỹ xác định chính xác bệnh nhân có bệnh van tim hay không ? Mức độ tổn thường các van tim, cũng như ảnh hưởng của nó đến hoạt động của quả tim

–         Phần lớn các trường hợp van tim có thể phát hiện bằng ống nghe tim. Dòng chảy bất thường của máu thường tạo ra 1 âm thanh: tiếng thổi. Đối với 1 bác sỹ có kinh nghiệm, việc nghe tim có thể đem lại nhiều thông tin hữu ích cho chẩn đoán.

–         Điện tim đồ: Đường ghi lại hoạt động điện của tim nhưng nhiều trường hợp có ít giá trị trong chẩn đoán bệnh van tim (đặc biệt giai đoạn sớm)

–         X Quang: Là 1 xét nghiệm đơn giản có thể đem lại các thông tin về tổn thương giãn buồng tim, bằng chứng của suy tim ứ huyết và các tổn thương khác phối hợp.

–         Siêu âm tim: Là 1 phương pháp rất có giá trị trong các bệnh van tim. Đây là phương pháp thăm dò không chảy máu có thể cho thấy hình ảnh các van tim, cơ tim thông qua nguyên lý siêu âm.

Siêu âm tim có thể cho thấy hình ảnh rõ về các van tim cũng như giúp đánh giá mức độ hẹp, hở van trong nhiều trường hợp với độ chính xác cao.

–         Thông tim: Được chỉ định trong 1 số trường hợp để đánh giá 1 cách chính xác tổn thương van tim, cơ tim, các mạch máu.

Những trường hợp bệnh van tim giai đoạn sớm triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn. Đôi khi bệnh nhân biểu hiện bằng tức ngực, cảm giác trống ngực, khó thở khi gắng sức, hay đôi khi được mô tả bằng cảm giác hụt hơi. Khi có bất cứ biểu hiện bất thường trên nên đi khám bác sĩ để kiểm tra xem mình có bệnh lý van tim gì hay không? Một số trường hợp biểu hiện đầu tiên của bệnh nhân là liệt nửa người, méo miệng, hoặc đau dữ dội một chân, đó là các biểu hiện của tắc mạch cấp do cục máu đông từ tim trôi vào các mạch máu nhỏ gây tắc mạch. Các cục máu đông này thường được hình thành trong trường hợp bệnh nhân có hẹp khít van hai lá, tim đập loạn nhịp khiến dễ hình thành cục máu đông trong buồng tim.

Câu hỏi 64: Làm thế nào phát hiện mình bị bệnh van tim ?

Đa số các bệnh lý van tim đều tiến triển từ từ, giai đoạn đầu thường không có triệu chứng gì, đến khi có biểu hiện lâm sàng thường là giai đoạn muộn, đã có suy tim hoặc biến chứng khác. Do đó, khám sức khỏe định kì là biện pháp tốt nhất để phát hiện các bệnh lý tim mạch nói chung cũng như bệnh van tim nói riêng. Khi nghi ngờ có bệnh van tim có rất nhiều phương pháp để xác định từ đơn giản đến các xét nghiệm kỹ thuật cao giúp bác sỹ xác định chính xác bệnh nhân có bệnh van tim hay không ? Mức độ tổn thường các van tim, cũng như ảnh hưởng của nó đến hoạt động của quả tim

–         Phần lớn các trường hợp van tim có thể phát hiện bằng ống nghe tim. Dòng chảy bất thường của máu thường tạo ra 1 âm thanh: tiếng thổi. Đối với 1 bác sỹ có kinh nghiệm, việc nghe tim có thể đem lại nhiều thông tin hữu ích cho chẩn đoán.

–         Điện tim đồ: Đường ghi lại hoạt động điện của tim nhưng nhiều trường hợp có ít giá trị trong chẩn đoán bệnh van tim (đặc biệt giai đoạn sớm)

–         X Quang: Là 1 xét nghiệm đơn giản có thể đem lại các thông tin về tổn thương giãn buồng tim, bằng chứng của suy tim ứ huyết và các tổn thương khác phối hợp.

–         Siêu âm tim: Là 1 phương pháp rất có giá trị trong các bệnh van tim. Đây là phương pháp thăm dò không chảy máu có thể cho thấy hình ảnh các van tim, cơ tim thông qua nguyên lý siêu âm.

Siêu âm tim có thể cho thấy hình ảnh rõ về các van tim cũng như giúp đánh giá mức độ hẹp, hở van trong nhiều trường hợp với độ chính xác cao.

–         Thông tim: Được chỉ định trong 1 số trường hợp để đánh giá 1 cách chính xác tổn thương van tim, cơ tim, các mạch máu.

Những trường hợp bệnh van tim giai đoạn sớm triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn. Đôi khi bệnh nhân biểu hiện bằng tức ngực, cảm giác trống ngực, khó thở khi gắng sức, hay đôi khi được mô tả bằng cảm giác hụt hơi. Khi có bất cứ biểu hiện bất thường trên nên đi khám bác sĩ để kiểm tra xem mình có bệnh lý van tim gì hay không? Một số trường hợp biểu hiện đầu tiên của bệnh nhân là liệt nửa người, méo miệng, hoặc đau dữ dội một chân, đó là các biểu hiện của tắc mạch cấp do cục máu đông từ tim trôi vào các mạch máu nhỏ gây tắc mạch. Các cục máu đông này thường được hình thành trong trường hợp bệnh nhân có hẹp khít van hai lá, tim đập loạn nhịp khiến dễ hình thành cục máu đông trong buồng tim.

Câu hỏi 63: Có những bệnh van tim nào ?

Bệnh van tim thường biểu hiện dưới hai dạng tổn thương chính là hẹp van tim và hở van tim, đôi khi một van có tổn thương phối hợp cả hai dạng trên vừa hẹp vừa hở. Hẹp van tim là tình trạng khi các van tim trở nên dày và cứng hoặc dính các mép van làm hạn chế khả năng mở của van tim, gây cản trở dòng máu, hiện tượng này gọi là hẹp van tim. Ngược lại, hở van tim xảy ra khi các van này đóng không kín do giãn vòng van, thoái hoá, dính, co rút hoặc các dây chằng van tim quá dài… làm cho dòng máu có thể trào ngược lại trong thời kỳ đóng van.

Quả tim bình thường có bốn cấu trúc van tim, các van này đều có thể biểu hiện bệnh lý van tim:

1.Bệnh van động mạch chủ:

          Van động mạch chủ có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó kiểm soát dòng máu mang ôxy từ thất trái đi vào động mạch chủ mang máu đi nuôi toàn cơ thể. Nếu van động mạch chủ bị hẹp, dòng máu qua van động mạch chủ khó khăn, quả tim phải bóp mạnh hơn để đảm bảo đưa máu đi nuôi cơ thể. Trái lại, khi van đóng không kín, tức khi hở van, một phần lượng máu được bơm vào động mạch chủ sẽ trào ngược trở lại thất trái trong thì tâm trương làm giảm dòng máu đi nuôi cơ thể. Trong cả hai trường hợp, thất trái đều phải làm việc nhiều hơn bình thường, hậu quả là thành thất bị dày lên (phì đại) và buồng thất trở nên to hơn (giãn)

2. Bệnh van động mạch phổi:

Van động mạch phổi  cho phép máu đi từ tâm thất phải lên động mạch phổi để trao đổi oxy. Khi van động mạch phổi bị hẹp, gây cản trở thất phải tống máu lên động mạch phổi. Ngược lại, khi hở van động mạch phổi làm cho một lượng máu đáng lẽ đi vào động mạch phổi lại trào ngược lại thất phải. Trong cả hai trường hợp, thất phải đều phải làm việc nhiều hơn nhằm đảm bảo bơm đủ lượng máu. Thất phải sẽ bù đắp tình trạng này bằng cách giãn và phì đại thành cơ.

3. Bệnh van ba lá:

 Bình thường, máu từ tâm nhĩ phải đi qua van ba lá xuống tâm thất phải rồi sau đó được bơm vào động mạch phổi lên phổi trao đổi ôxy. Nếu van ba lá bị hẹp sẽ gây cản trở dòng máu từ nhĩ phải xuống thất phải. Nếu van ba lá đóng không kín (tức hở), một phần máu từ thất phải sẽ trào ngược lại nhĩ phải. Trong cả hai trường hợp, tim đều phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo cung lượng máu. Hẹp van ba lá sẽ gây giãn nhĩ phải trong khi thất phải vẫn bình thường hoặc nhỏ hơn do không nhận đủ máu. Hở van ba lá sẽ gây giãn cả tâm thất và tâm nhĩ phải.

4.Bệnh van hai lá:
Van hai lá có chức năng kiểm soát dòng máu mang ôxy chảy một chiều từ tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái. Nếu lỗ van bị hẹp, lượng máu từ nhĩ trái chảy xuống thất trái sẽ bị hạn chế. Mặt khác, khi van đóng không kín (gọi là hở van), một lượng máu xuống thất trái sẽ bị trào ngược trở lại nhĩ trái. Trong cả hai trường hợp, tim đều phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo đủ lượng máu đi nuôi bộ não, thận và các bộ phận khác của cơ thể. Đáp ứng với tình trạng hở van, thất trái sẽ giãn ra và áp lực trong buồng thất trái tăng lên, hậu quả cuối cùng sẽ dẫn đến suy tim.

Câu hỏi 63: Có những bệnh van tim nào ?

Bệnh van tim thường biểu hiện dưới hai dạng tổn thương chính là hẹp van tim và hở van tim, đôi khi một van có tổn thương phối hợp cả hai dạng trên vừa hẹp vừa hở. Hẹp van tim là tình trạng khi các van tim trở nên dày và cứng hoặc dính các mép van làm hạn chế khả năng mở của van tim, gây cản trở dòng máu, hiện tượng này gọi là hẹp van tim. Ngược lại, hở van tim xảy ra khi các van này đóng không kín do giãn vòng van, thoái hoá, dính, co rút hoặc các dây chằng van tim quá dài… làm cho dòng máu có thể trào ngược lại trong thời kỳ đóng van.

Quả tim bình thường có bốn cấu trúc van tim, các van này đều có thể biểu hiện bệnh lý van tim:

1.Bệnh van động mạch chủ:

          Van động mạch chủ có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó kiểm soát dòng máu mang ôxy từ thất trái đi vào động mạch chủ mang máu đi nuôi toàn cơ thể. Nếu van động mạch chủ bị hẹp, dòng máu qua van động mạch chủ khó khăn, quả tim phải bóp mạnh hơn để đảm bảo đưa máu đi nuôi cơ thể. Trái lại, khi van đóng không kín, tức khi hở van, một phần lượng máu được bơm vào động mạch chủ sẽ trào ngược trở lại thất trái trong thì tâm trương làm giảm dòng máu đi nuôi cơ thể. Trong cả hai trường hợp, thất trái đều phải làm việc nhiều hơn bình thường, hậu quả là thành thất bị dày lên (phì đại) và buồng thất trở nên to hơn (giãn)

2. Bệnh van động mạch phổi:

Van động mạch phổi  cho phép máu đi từ tâm thất phải lên động mạch phổi để trao đổi oxy. Khi van động mạch phổi bị hẹp, gây cản trở thất phải tống máu lên động mạch phổi. Ngược lại, khi hở van động mạch phổi làm cho một lượng máu đáng lẽ đi vào động mạch phổi lại trào ngược lại thất phải. Trong cả hai trường hợp, thất phải đều phải làm việc nhiều hơn nhằm đảm bảo bơm đủ lượng máu. Thất phải sẽ bù đắp tình trạng này bằng cách giãn và phì đại thành cơ.

3. Bệnh van ba lá:

 Bình thường, máu từ tâm nhĩ phải đi qua van ba lá xuống tâm thất phải rồi sau đó được bơm vào động mạch phổi lên phổi trao đổi ôxy. Nếu van ba lá bị hẹp sẽ gây cản trở dòng máu từ nhĩ phải xuống thất phải. Nếu van ba lá đóng không kín (tức hở), một phần máu từ thất phải sẽ trào ngược lại nhĩ phải. Trong cả hai trường hợp, tim đều phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo cung lượng máu. Hẹp van ba lá sẽ gây giãn nhĩ phải trong khi thất phải vẫn bình thường hoặc nhỏ hơn do không nhận đủ máu. Hở van ba lá sẽ gây giãn cả tâm thất và tâm nhĩ phải.

4.Bệnh van hai lá:
Van hai lá có chức năng kiểm soát dòng máu mang ôxy chảy một chiều từ tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái. Nếu lỗ van bị hẹp, lượng máu từ nhĩ trái chảy xuống thất trái sẽ bị hạn chế. Mặt khác, khi van đóng không kín (gọi là hở van), một lượng máu xuống thất trái sẽ bị trào ngược trở lại nhĩ trái. Trong cả hai trường hợp, tim đều phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo đủ lượng máu đi nuôi bộ não, thận và các bộ phận khác của cơ thể. Đáp ứng với tình trạng hở van, thất trái sẽ giãn ra và áp lực trong buồng thất trái tăng lên, hậu quả cuối cùng sẽ dẫn đến suy tim.

Câu hỏi 62: Van tim là gì? Bệnh van tim là gì?

1.Van tim là gì :
 

Quả tim bình thường có 4 buồng tim là hai tâm nhĩ ở trên và hai tâm thất ở dưới, giữa các buồng tim có các cấu trúc đảm bảo cho tuần hoàn máu chỉ đi theo một chiều người ta gọi là các van tim. Giữa nhĩ trái và thất trái được ngăn với nhau bởi van hai lá cho máu đi một chiều từ nhĩ trái xuống thất trái, dòng máu từ thất trái qua van động mạch chủ vào động mạch chủ đưa máu đi nuôi toàn cơ thể. Giữa nhĩ phải và thất phải ngăn cách với nhau bởi van ba lá cho máu đi một chiều từ nhĩ phải xuống thất phải, dòng máu từ thất phải qua van động mạch phổi vào động mạch phổi đưa máu lên phổi để trao đổi oxy. Như vậy quả tim bình thường có 4 cấu trúc van tim là van động mạch chủ, van động mạch phổi, van hai lá và van ba lá đảm bảo cho dòng máu luân chuyển theo một chu trình sinh lý.

 
2. Bệnh van tim
 

Hệ thống van tim là các cấu trúc đảm bảo cho máu lưu chuyển giữa các buồng tim theo một chu trình nhất định. Bình thường các van tim này là các cấu trúc thanh mảnh, mềm mại, cấu tạo bởi các lá van tim, và được cố định bằng các dây chằng, cột cơ. Vì một nguyên nhân nào đó, các lá van này mất đi độ mềm mại, thanh mảnh, bị dầy lên, dính vào nhau, hoặc vôi hóa (như trong bệnh van tim do thấp) hoặc các dây chằng cố định van tim bị sa xuống, đứt (như trong nhồi máu cơ tim) làm cho các van này không hoạt động được bình thường dẫn đến các bệnh lý van tim. Khi các van tim trở nên dày và cứng hoặc dính các mép van làm hạn chế khả năng mở của van tim, gây cản trở dòng máu, hiện tượng này gọi là hẹp van tim. Khi các van tim đóng lại không kín do giãn vòng van, thoái hoá, dính, co rút hoặc các dây chằng van tim quá dài… làm cho dòng máu có thể trào ngược lại trong thời kỳ đóng van gây ra hiện tượng này gọi là hở van tim. Các tổn thương trên có thể gặp ở tất cả các van tim, có thể do nguyên nhân bẩm sinh hoặc mắc phải. Các tổn thương van tim (hẹp hoặc/và hở van) đều có thể gây ra các rối loạn huyết động (tức là rối loạn lưu chuyển máu) và dẫn đến hậu quả bệnh lý từ mức độ nhẹ đến nặng.

Nguyên nhân gây bệnh lý van tim thường gặp nhất ở Việt Nam là thấp tim. Thấp tim thường gây dày dính, co kéo, vôi hóa hệ thống van tim, làm cho van bị hẹp, lâu ngày dẫn đến đóng không kín gây bệnh cảnh hẹp – hở van, thường gặp nhất là van hai lá và van động mạch chủ. Các nguyên nhân gây bệnh lý van tim ít gặp hơn như bẩm sinh (do sa van), do nhồi máu cơ tim (đứt dây chằng cột cơ gây hở van tim thường gặp nhất là van hai lá), do giãn các buồng tim trong bệnh lý suy tim do tăng huyết áp, bệnh cơ tim chu sản, bệnh cơ tim giãn vô căn….