All posts by admin

Câu hỏi 69: Tôi hoàn toàn khoẻ mạnh, khám sức khoẻ định kỳ được làm siêu âm tim phát hiện hở van hai lá rất nhẹ, hở van ba lá nhẹ. Vậy có nguy hiểm không ? Tôi phải làm gì ?

Hở van tim là tình trạng van tim đóng không kín dẫn đến dòng máu phụt ngược lại trong buồng tim gây ứ máu ở tim làm tim phải làm việc nhiều hơn để đẩy cả lượng máu ứ đó đi, lâu dẫn có thể dẫn đến suy tim. Tuỳ theo mức độ hở nặng hay nhẹ mà ảnh hưởng đến chức năng tim khác nhau. Người ta chia mức độ hở van tim thành 4 mức: 1/4 là hở nhẹ, 2/4 là hở trung bình, 3/4 là hở nặng và 4/4 là hở rất nặng. Để quyết định tình trạng hở van tim có cần điều trị hay không bác sĩ không chỉ dựa vào mức độ hở mà còn căn cứ vào triệu chứng của người bệnh (mức độ khó thở, mệt) sự tiến triển của hở van, mức độ bị ảnh hưởng của tim, chức năng tim (tim có giãn chưa, tim bóp còn tốt không..)

Trường hợp của bạn khám sức khoẻ định kỳ siêu âm tim phát hiện hở hai lá rất nhẹ, hở ba lá nhẹ, ngoài ra không có biểu hiện triệu chứng gì. Trong trường hợp này, bạn chưa cần điều trị thuốc hay làm can thiệp gì. Bạn chỉ cần sinh hoạt điều độ, sống lành mạnh, theo dõi và kiểm tra định kỳ bác sỹ chuyên khoa tim mạch 6 tháng một lần.

Câu hỏi 68: Bệnh hở van tim (Hở van hai lá) có nguy hiểm không ? Có phải mổ không ?

Hở van tim tức là tình trạng van tim đóng không kín làm dòng máu trào ngược lại buồng tim do vậy tim phải co bóp nhiều hơn. Tim có nhiều cách để thích nghi với tình trạng này:

Đầu tiên các buồng tim có xu hướng giãn ra để tống được một lượng máu nhiều hơn vì một phần lượng máu tim bơm ra khắp cơ thể bị trào ngược trở lại qua van. Cơ chế bù trừ này khá hiệu quả trong trường hợp dòng hở vừa hoặc nhẹ và người bệnh có thể không biểu hiện triệu chứng nào. Trong trường hợp nặng, cơ tim có thể bị suy yếu và suy tim ứ huyết sẽ xuất hiện với các triệu chứng: khó thở, phù mắt cá chân… Các buồng tim giãn có thể dẫn tới loạn nhịp.

Hở van tim có phải phẫu thuật không ?

 Hở van hai lá chỉ định phẫu thuật dựa vào :Mức độ hở van: định lượng dựa trên siêu âm tim hay chụp buồng tim kết hợp với các triệu chứng cơ năng của suy tim hoặc sự tiến triển của hở van 2 lá và mức độ suy tim.

– Hở van 2 lá mức độ nặng ( độ 3,4) có kèm theo triệu chứng cơ năng của suy tim thì cần phẫu thuật ngay.

-Hở van hai lá nặng ( độ 3, 4) nhưng các triệu chứng cơ năng nhẹ (khó thở khi gắng sức) cần theo dõi sát

– Nếu đường kính tim trái ngày càng lớn (nhĩ trái, thất trái), hoặc xuất hiện rung nhĩ thì cần phẫu thuật ngoại khoa

Câu hỏi 68: Bệnh hở van tim (Hở van hai lá) có nguy hiểm không ? Có phải mổ không ?

Hở van tim tức là tình trạng van tim đóng không kín làm dòng máu trào ngược lại buồng tim do vậy tim phải co bóp nhiều hơn. Tim có nhiều cách để thích nghi với tình trạng này:

Đầu tiên các buồng tim có xu hướng giãn ra để tống được một lượng máu nhiều hơn vì một phần lượng máu tim bơm ra khắp cơ thể bị trào ngược trở lại qua van. Cơ chế bù trừ này khá hiệu quả trong trường hợp dòng hở vừa hoặc nhẹ và người bệnh có thể không biểu hiện triệu chứng nào. Trong trường hợp nặng, cơ tim có thể bị suy yếu và suy tim ứ huyết sẽ xuất hiện với các triệu chứng: khó thở, phù mắt cá chân… Các buồng tim giãn có thể dẫn tới loạn nhịp.

Hở van tim có phải phẫu thuật không ?

 Hở van hai lá chỉ định phẫu thuật dựa vào :Mức độ hở van: định lượng dựa trên siêu âm tim hay chụp buồng tim kết hợp với các triệu chứng cơ năng của suy tim hoặc sự tiến triển của hở van 2 lá và mức độ suy tim.

– Hở van 2 lá mức độ nặng ( độ 3,4) có kèm theo triệu chứng cơ năng của suy tim thì cần phẫu thuật ngay.

-Hở van hai lá nặng ( độ 3, 4) nhưng các triệu chứng cơ năng nhẹ (khó thở khi gắng sức) cần theo dõi sát

– Nếu đường kính tim trái ngày càng lớn (nhĩ trái, thất trái), hoặc xuất hiện rung nhĩ thì cần phẫu thuật ngoại khoa

Câu hỏi 67: Bệnh hở van hai lá khác hẹp van hai lá như thế nào ? Nguyên nhân gây bệnh hở van hai lá ?

Hẹp van hai lá là tình trạng giảm diện tích mở lỗ van hai lá do dính dần các mép van, xơ hoá và co rút bộ máy van và dưới van. Hẹp van hai lá gây cản trở dòng máu từ nhĩ trái về thất trái, gây ứ đọng máu ở nhĩ trái và ở phổi. Trái lại, hở van hai lá là tình trạng van hai lá đóng không kín trong thì tâm thu, làm cho dòng máu từ thất trái lẽ ra đi một chiều qua van động mạch chủ đưa máu đi nuôi toàn cơ thể lại bị trào ngược trở lại một phần vào nhĩ trái. Hậu quả của hở van hai lá làm là làm cho buồng tim trái phải làm việc nhiều hơn, lâu ngày dẫn đến giãn thất trái và suy tim.

Có rất nhiều nguyên nhân gây hở van hai lá, được chia thành các nhóm sau đây:
 
1. Bệnh lý lá van:

–         Di chứng thấp tim: xơ hoá, dầy, vôi, co rút lá van.

–         Thoái hoá nhầy: làm di động quá mức lá van.

–         Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (VNTMNK) gây thủng lá van, co rút lá van khi lành bệnh.

–         Xẻ (nứt) van hai lá: đơn thuần hoặc phối hợp (thông sàn nhĩ thất – một dị tật tim bẩm sinh).

–         Van hai lá có hai lỗ van.

–         Bệnh cơ tim phì đại: van hai lá di động ra trước trong kỳ tâm thu.

2. Bệnh lý vòng van hai lá:

–         Giãn vòng van:  do giãn buồng thất trái trong bệnh cơ tim giãn, bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tín, tăng huyết áp lâu ngày.

–         Vôi hoá vòng van:

–         Thoái hoá ở người già, thúc đẩy do tăng huyết áp, đái đường, suy thận.

–         Do bệnh tim do thấp, hội chứng Marfan, hội chứng Hurler.

3. Bệnh lý dây chằng:

–         Thoái hoá nhầy gây đứt dây chằng.

–         Di chứng thấp tim: dày, dính, vôi hoá dây chằng.

4. Bệnh lý cột cơ:

–         Nhồi máu cơ tim gây đứt cột cơ nhú: gây hở hai lá cấp, biểu hiện lâm sàng bằng triệu chứng suy tim nặng, có thể shock tim.

–         Rối loạn hoạt động cơ nhú:

–         Thiếu máu cơ tim

–         Bệnh lý thâm nhiễm cơ tim: amyloid, sarcoid.

Bẩm sinh: dị dạng, van hình dù…

Câu hỏi 67: Bệnh hở van hai lá khác hẹp van hai lá như thế nào ? Nguyên nhân gây bệnh hở van hai lá ?

Hẹp van hai lá là tình trạng giảm diện tích mở lỗ van hai lá do dính dần các mép van, xơ hoá và co rút bộ máy van và dưới van. Hẹp van hai lá gây cản trở dòng máu từ nhĩ trái về thất trái, gây ứ đọng máu ở nhĩ trái và ở phổi. Trái lại, hở van hai lá là tình trạng van hai lá đóng không kín trong thì tâm thu, làm cho dòng máu từ thất trái lẽ ra đi một chiều qua van động mạch chủ đưa máu đi nuôi toàn cơ thể lại bị trào ngược trở lại một phần vào nhĩ trái. Hậu quả của hở van hai lá làm là làm cho buồng tim trái phải làm việc nhiều hơn, lâu ngày dẫn đến giãn thất trái và suy tim.

Có rất nhiều nguyên nhân gây hở van hai lá, được chia thành các nhóm sau đây:
 
1. Bệnh lý lá van:

–         Di chứng thấp tim: xơ hoá, dầy, vôi, co rút lá van.

–         Thoái hoá nhầy: làm di động quá mức lá van.

–         Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (VNTMNK) gây thủng lá van, co rút lá van khi lành bệnh.

–         Xẻ (nứt) van hai lá: đơn thuần hoặc phối hợp (thông sàn nhĩ thất – một dị tật tim bẩm sinh).

–         Van hai lá có hai lỗ van.

–         Bệnh cơ tim phì đại: van hai lá di động ra trước trong kỳ tâm thu.

2. Bệnh lý vòng van hai lá:

–         Giãn vòng van:  do giãn buồng thất trái trong bệnh cơ tim giãn, bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tín, tăng huyết áp lâu ngày.

–         Vôi hoá vòng van:

–         Thoái hoá ở người già, thúc đẩy do tăng huyết áp, đái đường, suy thận.

–         Do bệnh tim do thấp, hội chứng Marfan, hội chứng Hurler.

3. Bệnh lý dây chằng:

–         Thoái hoá nhầy gây đứt dây chằng.

–         Di chứng thấp tim: dày, dính, vôi hoá dây chằng.

4. Bệnh lý cột cơ:

–         Nhồi máu cơ tim gây đứt cột cơ nhú: gây hở hai lá cấp, biểu hiện lâm sàng bằng triệu chứng suy tim nặng, có thể shock tim.

–         Rối loạn hoạt động cơ nhú:

–         Thiếu máu cơ tim

–         Bệnh lý thâm nhiễm cơ tim: amyloid, sarcoid.

Bẩm sinh: dị dạng, van hình dù…

Câu hỏi 66: Cháu tôi bị bệnh hẹp van hai lá, có chữa được không ? Có những biện pháp nào để điều trị?

Bệnh hẹp van hai lá là tình trạng giảm diện tích mở lỗ van HL do dính dần các mép van, xơ hoá và co rút bộ máy van và dưới van và cuối cùng là tình trạng vôi hoá dày đặc của toàn bộ bộ máy van tim. HHL gây cản trở dòng máu từ nhĩ trái về thất trái.

Các biện pháp điều trị hẹp van hai lá

Nội khoa
 
Nong van hai lá qua da
 
Mổ tách van trên tim kín
 
Mổ sửa van (tim hở)
 
Mổ thay van (tim hở)

1,Điều trị nội khoa:

Chỉ làm giảm triệu chứng và hạn chế biến chứng không giải quyết được bệnh:

– Hẹp van hai lá mức độ nhẹ hoặc vừa chưa xuất hiện triệu chứng có thể chỉ cần tiêm phòng thấp và dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trước các thủ thuật răng miệng hoặc phẫu thuật.

-Nếu xuất hiện rối loạn nhịp tim chẳng hạn như rung nhĩ, cần dùng thuốc chống đông để phòng ngừa huyết khối hình thành trong các buồng tim. Đối với trường hợp hẹp van hai lá đã xuất hiện rung nhĩ, thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm, digitalis có thể được sử dụng để làm chậm nhịp tim hoặc duy trì nhịp tim bình thường.

– Thuốc lợi tiểu giúp cải thiện triệu chứng khó thở do làm giảm lượng dịch ứ trệ trong cơ thể

2,Nong van hai lá qua da bằng bóng

Nong van hai lá bằng bóng qua da là phương pháp dùng dụng cụ ống thông có bóng ở đầu đưa vào trong buồng tim, đến tổ chức van hai lá, nong rộng van hai lá để giảm mức độ hẹp van. Đây là biện pháp điều trị hiệu quả, không phải mở ngực, ít xâm lấn hơn, đỡ tốn kém. Phương pháp này chỉ định trong trường hợp van hai lá hẹp khít nhưng tổ chức van hai lá còn tốt, chưa bị vôi hóa nhiều. Nhờ tiến bộ của phương pháp nong van hai lá bằng bóng qua da, nhiều người bệnh đã kéo dài được thời gian sống, cải thiện triệu chứng cũng như chất lượng cuộc sống.

3. Mổ tách van.

Phương pháp mổ tách van tim cho kết quả tương tự như nong van hai lá nhưng phức tạp hơn, bệnh nhân phải chịu một cuộc mổ. Ngày nay nhờ tiến bộ của tim mạch can thiệp với phương pháp nong van hai lá bằng bóng, môt tách van trên tim kín hiện nay ít được áp dụng.

4.Mổ sửa van hai lá:

Một số trường hợp van hai lá dày nhiều, vôi hóa, không còn chỉ định nong van hai lá do nguy cơ cao, có thể tiến hành phẫu thuật mổ sửa van hai lá với sự trợ giúp của máy tim phổi nhân tạo để cắt, gọt, sửa cho van đỡ hẹp. Mổ sửa van hai lá, giữ lại cấu trúc sinh lý của van là biện pháp tốt nhất, sonh lý nhất đối với cơ thể nhưng trong trường hợp tổn thương van do thấp tim, biện pháp này thường kém hiệu quả do tổn thương thấp tiếp tục tiến triển trên tổ chức van cũ.

5.Mổ thay van HL:
Khi tổn thương van tim không thể nong van hay sửa van được, bệnh nhân bắt đầu có dấu hiệu suy tim do bệnh van tim gây ra, thì mổ thay van hai lá là chỉ định được đặt ra. Van hai lá có thể được thay bằng van tim sinh học hoặc van nhân tạo tùy thuộc từng bệnh nhân.