Nhiều người cho rằng, ung thư vú do di truyền, kích thước ngực nhỏ,…Đây là những cách nghĩ sai lầm về căn bệnh nguy hiểm này.
Những lầm tưởng về ung thư vú nên tránh
Ung thư vú do di truyền
Khoảng 5-10% trường hợp bị ung thư vú là do lỗi gen di truyền. Theo hiệp hội Ung thư Mỹ, ngay cả trường hợp có bệnh sử gia đình vẫn dễ mắc bệnh mà không phải do đột biến gen riêng biệt. Vì vậy, nguyên nhân gây ung thư vú từ cả lối sống và di truyền.
Di truyền không phải nguyên nhân gây ung thư vú (Ảnh nguồn: Internet)
Phụ nữ ngực nhỏ – nguy cơ mắc bệnh thấp hơn
Nghiên cứu khoa học chỉ ra, không có mối liên hệ nào giữa kích thước bộ ngực với khả năng mắc ung thư vú. Yếu tố quyết định ngực to hay nhỏ là lượng chất béo và mô xơ, mà điều này lại tác động rất ít tới nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
Ung thư vú phát triển trong tế bào tại ống dẫn hoặc tiểu thùy – các bộ phận sản xuất sữa và chuyển sữa tới núm vú. Tính chất và số lượng của các bộ phận trên ở nữ giới hoàn toàn như nhau, bất kể kích thước ngực như nào.
Nếu phát hiện khối u trong thời kỳ cho con bú, đó không thể là ung thư
Trong thời gian nuôi con bằng sữa, các cơ quan trong vú phải hoạt động liên tục 24/7 để tạo ra sữa. Do đó, các tế bào sẽ bị giới hạn khả năng phát triển và gây ra bệnh ung thư vú. Thời gian sản xuất sữa của bầu vú càng dài, đều đặn, khả năng loại bỏ tế bào ung thư càng cao.
Tuy nhiên, hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp phụ nữ đang cho con bú mắc ung thư vú. Vì vậy, phát hiện khối u vú trong thời kỳ này hãy nhanh chóng đi siêu âm để kiểm tra kỹ hơn.
Nguy cơ tổn hại từ bức xạ là rất nhỏ so với những lợi ích to lớn của việc phát hiện bệnh sớm. Theo hiệp hội hóa học Mỹ ACS khuyến cáo phụ nữ từ 40 tuổi nên chụp X-quang tuyến vú hàng năm.
Hiện nay lượng bức xạ khi chụp X-quang tuyến vú đã giảm được khoảng 50 lần so với hơn 20 năm trước. Vì vậy, theo FDA, nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe lâu dài do chụp X-quang gần như bằng không.
Khối u càng nhỏ, khả năng ung thư càng cao
Thực tế, các khối u vú đều đa dạng về kích cỡ, khối u lớn hay nhỏ không thể nói lên rằng đó có phải là ung thư hay không.
Thậm chí có một khối u cho dù rất nhỏ nhưng cũng có thể là dạng ung thư xâm lấn (đó là trường hợp ung thư đã phát triển, lây lan tới các mô khỏe mạnh bình thường). Vì vậy, nếu phát hiện khối u mới hoặc có bất thường, ngay cả khi nó rất nhỏ cũng cần đi khám ngay.
Ung thư vú luôn xuất hiện khối u
Một số khối u ở ngực không hẳn là ung thư vú. (Ảnh nguồn: Internet)
Khoảng 10% người bị chẩn đoán ung thư vú không xuất hiện khối u, không có cảm giác đau hay những dấu hiệu cho thấy ngực của họ có vấn đề. Trong số các trường hợp phát hiện khối u, có tới 80-85% là lành tính. Chúng thường là u nang hoặc u sợi tuyến vú không gây ung thư.
Nếu ngực hoặc núm vú thay đổi hình dáng bên ngoài, phần da gần vú hoặc ở khu vực dưới cánh tay u lên,…thì nên tới gặp bác sĩ ngay.
Mắc thoái hóa khớp háng phải kèm theo viêm cột sống dính khớp giai đoạn muộn, ông Đoàn Văn Dung (xóm 5, Trực Hùng, Trực Ninh, Nam Định) được cảnh báo nguy cơ gãy xương bất cứ lúc nào và cận kề nguy cơ tàn phế. Trải qua hơn 10 năm chữa trị dai dẳng với nỗi ám ảnh bệnh đe dọa cuộc sống, ông đã rất bất ngờ khi giờ đây lại có thể giải thoát căn bệnh chỉ sau một ca phẫu thuật thay khớp“nhẹ nhàng”.
Bác sĩ nói: “Ông vui lòng sống chung với lũ”!
Gặp ông Đoàn Văn Dung vài giờ đồng hồ trước ca mổ, ấn tượng đầu tiên của tôi về người đàn ông chất phác này là đôi mắt ánh lên những tia nhìn đầy quyết tâm. Tôi thấy trong đôi mắt ấy không phải là lời kể lể về những thăm trầm sóng gió, vật lộn với cuộc sống mà ông đã trải qua mà chỉ là những quyết tâm, chưa một lần bỏ cuộc cả khi gặp vô số những thất bại.
Bệnh nhân Đoàn Văn Dung trước ngày phẫu thuật
Hiếm thấy một người bệnh nào, trước giờ phẫu thuật lại mang theo một niềm vui, một hi vọng lạc quan đến thế. Ngồi cùng ông và 3 người con trai túc trực, tôi đặt câu hỏi: “Ông có thấy lo lắng, hồi hộp nhiều không?”. Ông trả lời: “Chả có áp lực gì cả, tôi xác định phải mổ. Con trai tôi mở clip bệnh viện trong viện Sài Gòn, họ cầm cưa xèo xèo, gắp cục đưa vào vít đinh, trông ngon nghẻ. Sống ngày nào cho nó sướng ngày đấy. Ba thằng con trai tôi ở đây hết rồi, có bác sĩ chuyên gia làm, có gì đâu để phải lo sợ!”.
Trao đổi trực tiếp cùng bác sĩ Nguyễn Cao Tường, phụ trách khoa Ngoại – Bệnh viện Đông Đô, người theo dõi quá trình trước điều trị, thực hiện điều trị bệnh phòng sau phẫu thuật của bệnh nhân và cùng ngồi lắng nghe chia sẻ của ông, mới thấy quý tinh thần lạc quan ấy.
Ông kể lại: “Làm vận tải trên sông nước, con phương tiện hơn trăm tấn, lấy than ở Quảng Ninh về bán ngói, chở gạch, gặp việc gì làm việc đấy. Thời gian thấm thoát qua đi, cuộc sống nuôi vợ con cứ phải chiến đấu thôi. Một hai giờ đêm mưa rét căm căm cũng phải dậy, kiểm tra tàu thuyền. Máy móc nặng nhọc, thực tình là làm cố nhiều quá, sinh ra nhiều bệnh, đến khi về già, nó quá ra thì đi tập tễnh, nhanh đau nhức, đau bại ra, đêm ngủ không ngủ được nữa, nhiều hôm ngủ phải kê cốc vào mông cho đỡ đau. Cho đến bây giờ đau quá thì chống gậy”.
Hình ảnh thoái hóa khớp háng, viêm cột sống dính khớp của bệnh nhân Đoàn Văn Dung
Kể về hành trình hơn 10 năm chữa trị của mình, ông Dung cho biết: “Đi khám, chiếu chụp họ cứ bảo thấp khớp, uống thuốc đỡ đau lại làm. Khi đau tiêm một hai mũi khỏi lại đi làm tốt, rồi sau mua uống thuốc Nam, thuốc Tây. Uống thuốc đỡ đi, giảm đau đi lại làm tốt. Khi chiếu chụp không phát hiện ra, chỉ cho rằng cột sống lún, dính. Năm 2007 chữa thầy Lang ở Nam Định hết gần 100 triệu mà không đưa lại kết quả gì. Thuốc phá ra béo lên, tôi lại ra viện đầu ngành tại Hà Nội, thì phát hiện suy thượng thận, tiểu đường, thoái hóa xương khớp, thoái hóa xương háng. Bác sĩ bảo:“ông vui lòng sống chung với bệnh”, “bệnh của ông phải chịu vậy” nhưng mà tôi cũng không chịu”.
Tuy thế, mọi chuyện không được như ông Dung tính toán và hy vọng. Việc điều trị sau đó lại là phương pháp tình thế, “tù mù”: “Tôi về đau quá, thi thoảng uống thuốc giảm đau để có thể chịu được. Uống và tiêm liều 30 nghìn nó cũng giảm đau, 50 nghìn nó cũng giảm. Xét ra uống thế hại thận, phải hạn chế nên tôi kết hợp xoa cao hổ cốt, mật gấu, uống gì khỏi đau gì cũng uống. Nhưng về sau đau quá tôi lại lên viện trên Hà Nội, một viện đầu ngành làm vật lý trị liệu. Hằng ngày, tông đơ kéo ra cũng chẳng khỏi nhưng vì cuộc sống lại tiếp tục đi làm, phấn đấu ngày đêm”.
Quá trình phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Đông Đô
Ca phẫu thuật thay khớp háng cho ông Đoàn Văn Dung được thực hiện vào ngày 30/6/2018 với ê kíp được chỉ đạo trực tiếp bởi Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Toàn – Nguyên Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình I, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện Việt Đức.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Toàn trực tiếp chỉ đạo ê kíp phẫu thuật
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Toàn cho biết: “Trường hợp người bệnh hơn 10 năm viêm cột sống dính khớp, thoái hóa khớp háng toàn bộ có thể gãy bất cứ lúc nào và nguy cơ tàn phế. Bệnh sinh ra do các yếu tố tuổi tác, công việc, bệnh lý trước đó điều trị sai phương pháp hoặc không điều trị. Bệnh cảnh thoái hóa khớp, đặc biệt khớp háng là khớp vận động chi dưới, gây đau, khó khăn sinh hoạt, đây là nguyên nhân gây ra bệnh cảnh khác nặng hơn: viêm khớp háng đối diện (trường hợp ông cụ là viêm khớp háng phải có dính trong giai đoạn muộn). Toàn bộ chân phải thấp hơn, đi lại phụ thuộc vào gậy, mất sức khỏe lao động, gây bệnh khác về khớp: cứng khớp gối có thể teo cơ chi dưới”.
Là một người “ngoại đạo”, tôi (người viết bài) khá băn khoăn vì nguyên lý thoái hóa khớp là quy luật tất yếu về sinh học, việc thay khớp liệu có phải là giải pháp tức thời như các phương pháp trước. Đem thắc mắc này chia sẻ với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Toàn, ông cho biết: “Thay khớp háng là phương pháp tối ưu nhất và đây cũng là phương pháp hiện đại nhất của thế giới cho những trường hợp thoái hóa khớp háng hiện nay. Sẽ có 2 cách thay, thay bán phần hoặc toàn phần, điều này phải dựa theo bệnh cảnh. Với trường hợp của bệnh nhân Đoàn Văn Dung sẽ thuộc nhóm thay toàn phần”.
Ê kíp phẫu thuật thay khớp háng cho Bệnh nhân tại Bệnh viện Đông Đô
Mọi sự chuẩn bị, theo dõi diễn tiến sức khỏe người bệnh, đảm bảo vô khuẩn, vô trùng tuyệt đối, đo lường từng minimet trong kỹ thuật và vật liệu suốt quá trình phẫu thuật được ê kíp mổ, kíp kỹ thuật phụ trợ đảm bảo trong hơn 3 tiếng đồng hồ. Đây là những yếu tố tiên quyết cho sự thành công của ca mổ. Thực tế, bác sĩ bằng kinh nghiệm đo đạc chính xác tuyệt đối sẽ đảm bảo cho quá trình thay khớp. Đặc biệt, với phẫu thuật thay khớp háng, không được phép chỉ định thực hiện nhiều lần nên mọi sự sai lệch dù là nhỏ nhất cũng sẽ gây ra bất lợi lớn cho bệnh nhân.
Ngoài ra, các yếu tố kíp kỹ thuật phụ trợ (phụ trách máy móc, vật liệu trong quá trình phẫu thuật) và điều trị bệnh phòng: thuốc cùng chế độ tập luyện và phục hồi chức năng là những điều then chốt, quyết định tới sự thành công cuối cùng cho ca phẫu thuật.
Ê kíp kỹ thuật phụ trợ đảm bảo dụng cụ và vật liệu trong quá trình phẫu thuật
Phòng phẫu thuật với hệ thống thiết bị Y tế công nghệ Hoa Kỳ và đảm bảo vô trùng tuyệt đối
Chia sẻ điều này, bác sĩ Ngoại khoa Nguyễn Cao Tường tại Bệnh viện Đông Đô cho biết: “Sau phẫu thuật, Bệnh viện luôn phải theo dõi sát sao từng diễn tiến hậu phẫu để có những quyết định sử dụng kháng sinh, chống viêm, giảm đau và các loại thuốc chống đông máu theo liều lượng, liệu trình phù hợp. Thực tế với trường hợp của bệnh nhân này, các loại thuốc chống đông máu được sử dụng trong khoảng 3 ngày đầu, tới ngày thứ 4 khi đã ổn định, chúng tôi hướng dẫn và chăm sóc bệnh nhân theo chế độ tập luyện riêng biệt để không ảnh hưởng tới vết mổ”.
Sự hồi phục không ngờ sau phẫu thuật
Bốn ngày sau phẫu thuật, gặp lại ông Đoàn Văn Dung tại phòng 603, khu Nội trú Bệnh viện Đông Đô, tôi thật sự ngạc nhiên. Ông đã có thể vận động, đi lại và sinh hoạt bình thường. Tới ngày thứ 7, việc vận động, đi lại của ông, hoàn toàn không còn phụ thuộc vào giá đỡ nữa.
Chia sẻ với tôi về sự hồi phục sau ca mổ, ông không giấu nổi niềm vui mừng: “Tôi chỉ đau tí cơ thôi, tôi đang tập đi, ăn uống bình thường, ngủ nghỉ không sao. Những ngày đầu tiên sau khi mổ còn hơi đau chứ bây giờ tôi có thể dậy đi lại khắp hành lang, đánh răng rửa mặt đi lại vệ sinh mà không cần ai, không cần bám vẫn có thể đi được. Có 4 ngày đã đi được, có tuyệt vời không! Phải nói bác sĩ, y học hiện đại, tôi không thể tưởng tượng được, người ta giỏi như thế. Tôi vẫn tập đi, ngoại giao chơi bời quanh viện, đánh cờ trên mạng tốt, anh nào địch được tôi hơi khó. Còn đau một tí là quên luôn, đánh từ sáng tới chiều, gặp đối thủ đánh từ sáng tới chiều. Tốc độ này khi về nhà, nay mai diện sơ vin, nhuộm tóc vào phong độ ngay”, ông cười sảng khoái.
Việc vận động, đi lại tới ngày thứ 7 đã hoàn toàn không phụ thuộc vào giá đỡ
Đánh giá hiệu quả sau phẫu thuật của bệnh nhân, Bác sĩ Nguyễn Cao Tường cho biết: “Việc kiểm soát lượng máu bị mất trong phẫu thuật được ê kíp mổ thực hiện rất tốt. Sau phẫu thuật, chúng tôi theo dõi người bệnh không chảy máu, điều này cho thấy tín hiệu rất tốt của quá trình phẫu thuật và hậu phẫu. Điều rất quan trọng nữa là chế độ chăm sóc bệnh phòng. Người bệnh được chỉ định nằm bất động 3 ngày và có cố định chân bên mổ, dùng gối đặt giữa 2 háng. Việc thực hiện theo dõi phải cực kỳ sát sao bởi nếu không cố định khớp mới thay, có thể nguy cơ mổ lại , khớp bị gãy toác. Tới ngày thứ 4 trở đi, người bệnh đã được vận động tại chỗ, trên giường, được nẹp cố định chân, gác cao so với mặt giường 30 độ đảm bảo cho quá trình lưu thông máu và các lưu ý đặc biệt về điều trị bệnh phòng với các bài tập luyện, phục hồi chức năng riêng biệt”.
Trở lại với niềm vui của ông Đoàn Văn Dung, nói về cảm nhận của mình những ngày nằm điều trị tại Bệnh viện Đông Đô, thêm một lần nữa, ông cho chúng tôi thấy sự lạc quan, tích cực trong chiều dài thăng trầm cuộc đời của ông: “Đời tôi từ lúc chiến tranh, bị thương và tới giờ, bây giờ nhờ ơn Đảng đời sống nâng cao, trước đây nằm bệnh viện đâu có được sung sướng như này. Sự chăm sóc của bác sĩ ở đây, người ta rất hòa nhã vui vẻ, mất tiền cũng sướng, như nghỉ mát khách sạn. Tôi cảm thấy rất thoải mái rồi, về quê tôi sẽ phải khuyên bạn bè lên đây mà điều trị”.
Theo các chuyên gia y tế, khám sức khỏe định kỳ 1-2 lần/năm là phương pháp tốt nhất giúp phát hiện kịp thời những căn bệnh nguy hiểm ở giai đoạn khởi phát, phòng ngừa các bệnh lý thường gặp hoặc có nguy cơ mắc cao, đồng thời giúp loại bỏ các lo lắng không cần thiết, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trên thực tế, nhiều người có bệnh đang tiến triển trong cơ thể nhưng không hề nhận ra do không kiểm tra sức khỏe thường xuyên. Khi phát hiện thì bệnh đã ở giai đoạn nặng. Đây là thiệt thòi lớn, nếu việc thăm khám định kỳ được quan tâm đúng mức thì các rủi ro đó có thể được phát hiện sớm hơn. Từ đó, khả năng được điều trị đạt được hiệu quả cao, bảo vệ sức khỏe tốt hơn cho mọi người.
Nhằm chung tay bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Bệnh viện Đông Đô với việc đầu tư hệ thống thiết bị y tế hiện đại bậc nhất, là quy tụ đội ngũ các Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ đầu ngành trong nước chuyên sâu trong từng lĩnh vực chuyên môn đã thiết lập gói khám sức khỏe định kỳ chuyên sâu với đầy đủ các danh mục khám, theo một tiến trình khoa học từ khâu khám lâm sàng tổng quát, tới các xét nghiệm chuyên sâu kết hợp với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng tiên tiến hiện đại, đảm bảo cho kết quả tầm soát và chẩn đoán bệnh chính xác nhất.
Những lợi ích của việc khám sức khỏe định kỳ chuyên sâu
Phát hiện sớm mầm bệnh: Đôi khi cơ thể chúng ta trông có vẻ khỏe mạnh nhưng vẫn có thể tiềm ẩn những nguy cơ bệnh tật từ bên trong. Đó có thể là mầm bệnh rất nguy hiểm như tế bào ung thư, hay các chỉ số sụt giảm liên quan đến bệnh tiểu đường, mỡ máu, gan nhiễm mỡ,… Khám sức khỏe định kỳ giúp phát hiện mầm bệnh hay những nguy cơ tiềm ẩn ngay từ giai đoạn khởi phát, từ đó có biện pháp phòng ngừa và tăng khả năng chống lại bệnh hiệu quả nhất.
Nâng cao hiệu quả điều trị: Khám sức khỏe định kỳ là phương pháp hữu hiệu giúp chẩn đoán và phát hiện sớm các bệnh lý, đặc biệt với những bệnh nan y như tiểu đường, ung thư, suy thận, tim mạch… Việc phát hiện bệnh sớm ngay từ khi mới khởi phát sẽ giúp chúng ta có nhiều cơ hội điều trị bệnh hơn. Ví dụ, đối với bệnh ung thư thì việc phát hiện bệnh sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mang đến nhiều hi vọng chữa khỏi và tiên lượng tốt hơn cho bệnh nhân. Còn bệnh tiểu đường nếu được phát hiện sớm, bệnh nhân có thể tránh được một số biến chứng nguy hiểm trên thận, đáy mắt, mạch máu và tránh bị nhiễm trùng bàn chân…
Tiết kiệm chi phí điều trị: Chúng ta vẫn thường băn khoăn và lo lắng về khoản tiền sẽ phải chi trả cho một lần khám sức khỏe định kỳ. Nhưng, hãy so sánh chi phí một lần đi khám sức khỏe định kỳ với việc phải vào viện điều trị – con số ấy chênh lệch nhau quá nhiều, đấy là chưa kể đến những căn bệnh nặng được phát hiện ở giai đoạn sau. Và hãy nhớ, không có sức khỏe, chúng ta không thể làm ra tiền và càng không cơ hội để hưởng thụ những đồng tiền ấy. Vì thế, khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm, điều trị sớm sẽ giúp chi phí chữa bệnh được giảm thiểu.
Phòng ngừa bệnh một cách hiệu quả: Người ta thường nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, có thể coi đây là câu nói thể hiện đầy đủ nhất ý nghĩa của việc khám sức khỏe định kỳ. Hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng quy trình thăm khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ sẽ giúp mỗi người nắm bắt tất cả những vấn đề hiện có trong cơ thể. Qua đó, bác sĩ không chỉ thông báo cho bạn các chỉ số cơ thể, mà còn tư vấn, dự báo khả năng phát bệnh bất kỳ của mỗi người, đồng thời đưa ra lời khuyên về việc thay đổi lối sống, kiểm soát trọng lượng cơ thể, tiêm chủng vacxin hay bổ sung các dưỡng chất cần thiết,… Tất cả đều phải phù hợp với lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của mỗi người.
Thiết lập hồ sơ bệnh án đầy đủ nhất: Nếu bạn đã từng mắc một căn bệnh nghiêm trọng, các bác sĩ chịu trách nhiệm điều trị cho bạn sẽ cần tham khảo hồ sơ bệnh án trước đây để đưa ra quyết định về việc điều trị sau này. Đây là việc quan trọng nhằm tránh các biến chứng trong quá trình chữa bệnh, đồng thời đưa ra liệu trình điều trị hiệu quả. Do đó, việc thăm khám sức khỏe định kỳ hàng năm sẽ giúp bạn thiết lập một hồ sơ bệnh án đầy đủ nhất, vừa giúp ích cho các bác sĩ trong chẩn đoán và điều trị, vừa tiết kiệm được thời gian và chi phí cho các kiểm tra trong trường hợp khẩn cấp.
Ban thư ký biên tập tạp chí Tim Mạch Học Hoa Kỳ và nhiều tạp chí y khoa trên thế giới
Thư ký Hội Tim Mạch Việt Nam
Bác sĩ Khoa C3 – Viện Tim Mạch Việt Nam
Bác sĩ tại phòng Điện tâm đồ và Điện sinh lý học Tim – Viện Tim mạch Việt Nam
Bác sĩ khoa Can thiệp tim mạch – Bệnh viện Đông Đô
Là một trong những chuyên gia đầu ngành về điện sinh lý học và tạo nhịp tim, Tiến sĩ – Bác sĩ Phạm Như Hùng đã có những đóng góp to lớn cho ngành Tim mạch Việt Nam và thế giới. Bằng kiến thức chuyên môn sâu rộng, kỹ thuật tay nghề vững chắc, Bác sĩ Hùng tích cực nghiên cứu, học hỏi và áp dụng nhiều tiến bộ y học nhằm mang lại cho người bệnh hiệu quả điều trị cao nhất. Bác sĩ Hùng đã cứu sống thành công nhiều ca bệnh phức tạp, mang lại bệnh nhân cuộc sống mạnh khỏe, an vui.
Chuyên môn khám và điều trị các bệnh:
Các bệnh Nội Tim mạch
Đau ngực trái, bệnh mạch vành (sau đặt stent, sau mổ bắc cầu).
Tăng huyết áp, hạ huyết áp
Xơ vữa động mạch
Rối loạn mỡ máu, mỡ máu cao, rối loạn chuyển hóa
Bệnh van tim (Hẹp hở van tim)
Bệnh cơ tim.
Bệnh tăng huyết áp
Tư vấn dinh dưỡng và chế độ sinh hoạt, tập luyện cho bệnh nhân tăng huyết áp
Chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh ở người lớn, đặc biệt tầm soát và điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em, sơ sinh
Khám bệnh mạch máu ngoại biên.
Khám hội chẩn các bệnh tim cần phẫu thuật, chụp mạch vành hay đặt máy tạo nhịp.
Tư vấn, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý tim mạch.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa Cơ – Xương – Khớp
Tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội 1976, chuyên khoa cấp I năm 1987, chuyên khoa cấp II năm 1991,
Tiến sĩ Y khoa năm 1997
Danh hiệu phó Giáo sư năm 2007
Bác sĩ công tác tại Bệnh viện Bạch Mai (Năm 1976-2010)
Nguyên trưởng khoa Cơ Xương Khớp – Bệnh Viện Bạch Mai
Chủ tịch Hội Loãng xương Hà Nội
Thành viên Tổ chức Loãng xương thế giới
Ủy viên Ban chấp hành Hội Thấp khớp học Việt Nam
Hiện nay là Trưởng khoa Cơ-Xương-Khớp – Bệnh viện Đông Đô
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Vũ Thị Thanh Thủy là một chuyên gia, bác sĩ cao cấp được tu nghiệp tại Australia về chuyên ngành Cơ – Xương-Khớp. Bác sĩ đã tham dự các hội thảo, khóa đào tạo quốc tế tổ chức tại nhiều quốc gia như: Australia, Pháp, Đức, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Hà Lan, Singapore, Hồng Kông.
Ngoài công tác khám chữa bệnh và giảng dạy, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Vũ Thị Thanh Thủy còn viết và biên soạn nhiều đầu sách về chuyên ngành Thấp khớp học cho các chương trình đào tạo, quy trình kỹ thuật của bệnh viện Bạch Mai. Chủ biên cuốn sách: Bệnh lý Cơ Xương Khớp thường gặp; Là tác giả trên 50 bài báo khoa học về Chuyên ngành Cơ Xương Khớp, tác giả nhiều bài báo về Loãng xương và bác sĩ thường xuyên tham gia tư vấn trên truyền hình VTV2, Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam về Cơ Xương Khớp.
Chuyên môn khám và điều trị các bệnh:
Bệnh về Khớp
Gout (Gút)
Viêm cột sống dính khớp
Thoái hóa khớp
Viêm khoanh khớp vai
Đau khớp vai, đau vai gáy
Lupus ban đỏ, đau thắt lưng, đau xương khớp
Thoát vị đĩa đệm, viêm khớp
Bệnh về Xương:
Loãng xương, đau nhức xương
Viêm xương, gai xương, vôi hóa cột sống
Chấn thương thể thao
Bệnh về Cơ:
Chứng đau mỏi cơ
Yếu cơ, Loạn dưỡng cơ
Viêm cơ, Teo cơ
Các triệu chứng – biểu hiện sau:
Thoái hóa khớp (khớp gối, cột sống thắt lưng, cột sống cổ)
Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia – Bệnh viện Bạch Mai
Trưởng phòng Tim mạch Can thiệp – Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai
Thành viên Hội Tim mạch Hoa Kỳ
Chủ nhiệm và Giảng viên cao cấp Bộ môn Tim Mạch Đại học Y Hà Nội.
Thành viên Hội đồng Cố vấn Chuyên môn Bệnh viện Đông Đô
PGS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng là người có nhiều cống hiến cho ngành tim mạch Việt Nam với các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, viết sách… Ông đã tham gia biên soạn 13 sách giáo khoa và sách chuyên khảo, trong đó có 3 quyển xuất bản tại Hoa Kỳ; có 98 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong đó có nhiều bài được đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín.
Trong các nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ ông cũng được đồng nghiệp và chuyên gia quốc tế đánh giá cao. PGS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng còn có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề: Nong van hai lá bằng bóng Inoue trong điều trị bệnh nhân HHL đặc biệt ở phụ nữ có thai; Can thiệp động mạch vành qua da; Điều trị tế bào gốc; Can thiệp một số bệnh tim bẩm sinh; Thăm dò chuyên sâu động mạch vành: Siêu âm trong lòng mạch và thăm dò dự trữ dòng chảy động mạch vành; Can thiệp đặt stent graft động mạch chủ trong điều trị tách thành động mạch chủ; Điều trị bệnh cơ tim phì đại qua đường ống thông; Nong màng tim (mở cửa sổ) bằng bóng qua da…
Chuyên môn khám và điều trị các bệnh:
Bệnh lý Tim Mạch:
Các bệnh Nội Tim mạch
Đau ngực trái, bệnh mạch vành (sau đặt stent, sau mổ bắc cầu).
Tăng huyết áp, hạ huyết áp
Rối loạn mỡ máu
Bệnh van tim (Hẹp hở van tim)
Bệnh cơ tim.
Chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh ở người lớn, đặc biệt tầm soát và điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em, sơ sinh
Khám bệnh mạch máu ngoại biên.
Khám hội chẩn các bệnh tim cần phẫu thuật, chụp mạch vành hay đặt máy tạo nhịp.
Tư vấn, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý tim mạch.
Tư vấn sử dụng thuốc chống đông máu.
Bệnh mạch vành:
Bệnh mạch vành
Tư vấn Stent mạch vành
Bệnh hẹp mạch vành
Can thiệp tim mạch
Thiểu năng mạch vành
Phẫu thuật bắc cầu mạch vành
Xơ vữa động mạch
Điều trị bệnh mạch vành
Rối loạn mỡ máu:
Bệnh mỡ máu cao
Rối loạn mỡ máu
Tư vấn, điều trị bệnh mỡ máu
Rối loạn chuyển hóa
Dinh dưỡng cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu
Cao huyết áp:
Tư vấn bệnh tăng huyết áp
Điều trị bệnh tăng huyết áp
Dinh dưỡng cho bệnh nhân tăng huyết áp
Chế độ sinh hoạt, tập luyện cho bệnh nhân tăng huyết áp