

Trong giai đoạn đầu, người bệnh có cảm giác tức nặng, mỏi hai chân, đôi khi thấy phù chân vào cuối ngày, nhất là sau khi đứng nhiều giờ, đồng thời xuất hiện đau bắp chân, chuột rút nhất là về đêm hoặc một số người có cảm giác tê, ngứa ở cẳng chân và bàn chân.
– Đau khi đi lại nhiều, sưng nề, tím ở cẳng chân và mu bàn chân càng càng nặng thêm. Cảm giác tê, ngứa ở chân, nặng hơn và có thể xuất hiện viêm da, xơ cứng, lở loét.
– Trong giai đoạn sau của bệnh, cả người bệnh và bác sĩ khám bệnh có thể nhìn thấy hoặc quan sát được các búi tĩnh mạch nổi rõ ngoằn ngoèo dưới da, nhất là vùng khoeo chân. Bệnh càng ngày có thể nặng dần lên và xuất hiện loét kheo, da bắp chân, mu bàn chân do thiếu dinh dưỡng hoặc xuất hiện viêm tĩnh mạch hoặc huyết khối tĩnh mạch sâu.
– Vào giai đoạn đã bị loét da chân, xuất hiện huyết khối tĩnh mạch cho dù được điều trị tích cực nhưng các triệu chứng này chỉ thuyên giảm chậm và rất khó khỏi. Nếu gặp ở phụ nữ đang mang thai bệnh có thể tăng nặng thêm do chèn ép máu tĩnh mạch về tim nhiều hơn và thêm vào đó là có sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ làm xấu thêm tình trạng giãn tĩnh mạch chân. Cảm giác tức nặng và mỏi ở chi dưới khi đứng quá lâu càng ngày càng tăng.

Họ đều là những đối tượng có nguy cơ của bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới.
Bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới thường gặp ở người trên 50 tuổi, đôi khi xuất hiện cả ở những người trẻ tuổi hơn. Khi chức năng đưa máu trở lại tim của hệ thống tĩnh mạch chi dưới bị suy giảm, dẫn đến tình trạng máu ứ đọng và gây biến dạng mô xung quanh, hình thành bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới. Bệnh gây ra những biến chứng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày.

Một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh lý này:
Suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay là sự suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch nằm ở vùng chân dẫn đến hiện tượng máu ứ đọng lại sẽ gây ra những biến đổi về huyết động và biến dạng tổ chức mô xung quanh. Bệnh gây nhức mỏi, nặng chân, phù chân, cẳng chân thường xuyên có cảm giác tê rần, châm chích giống như kiến bò; da trở nên khô, nóng, thay đổi màu sắc, thường đen sậm và mỏng hơn so với da bình thường; thường xuyên bị chuột rút, cứng cẳng chân, nhất là vào ban đêm; trường hợp hình thành cục huyết khối trong lòng tĩnh mạch và theo tĩnh mạch di chuyển đến phổi có thể gây ra các triệu chứng của thuyên tắc mạch phổi như đau tức ngực, khó thở, mạch nhanh suy hô hấp…

Ở giai đoạn đầu các triệu chứng ban đầu của bệnh cũng thường mờ nhạt và thoáng qua, người bệnh thường có biểu hiện đau chân, nặng chân, đôi khi người bệnh chỉ có cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường; Mỏi chân, phù nhẹ khi đứng lâu ngồi nhiều; Chuột rút vào buổi tối, cảm giác bị châm kim, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm. Nhiều mạch máu nhỏ li ti (giai đoạn đầu chỉ thấy tĩnh mạch nổi li ti, nhất là ở cổ chân và bàn chân). Những triệu chứng này thường không rõ ràng hoặc mất đi khi nghỉ ngơi, các tĩnh mạch ở chi chưa giãn nhiều, lúc giãn, lúc không nên người bệnh ít chú ý và dễ bỏ qua.
Giai đoạn tiến triển, bệnh sẽ gây phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân. Vùng cẳng chân xuất hiện thay đổi màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày sẽ có biểu hiện loạn dưỡng. Các tĩnh mạch trương phồng lên gây cảm giác nặng, đau nhức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân. Hiện tượng này không mất đi khi nghỉ ngơi, nặng hơn có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi rõ trên da một cách thường xuyên, các mảng bầm máu trên da…
Giai đoạn biến chứng, gây viêm tĩnh mạch nông huyết khối (biến chứng của viêm tĩnh mạch nông huyết khối là thuyên tắc tĩnh mạch sâu đoạn gần, đoạn xa và thuyên tắc phổi), chảy máu nặng do giãn vỡ tĩnh mạch, nhiễm khuẩn vết loét của suy tĩnh mạch mạn tính.
Khi các dấu hiệu của bệnh không được xử lý kịp thời có thể gây ra các biến chứng: Suy giãn tĩnh mạch có thể dẫn đến viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng to. Vào giai đoạn cuối, toàn bộ hệ thống tĩnh mạch bị trì trệ, hệ thống tuần hoàn ứ đọng, tĩnh mạch giãn to quá mức, gây rối loạn các dưỡng chất cung cấp đến da làm da đổi màu, thâm đen, mỏng, dễ bị tổn thương dẫn đến nhiễm trùng, các tế bào lở loét, khó điều trị. Trường hợp nặng nhất có thể dẫn đến tử vong do cục huyết khối trong tĩnh mạch di chuyển đến phổi gây tắc nghẽn động mạch phổi.
Vì vậy, việc tầm soát, phát hiện, điều trị từ giai đoạn sớm đóng vai trò quan trọng trong việc giảm các triệu chứng, giảm nguy cơ tàn phế, tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

PGS. TS. Vũ Thị Thanh Thủy hiện đang công tác tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Đông Đô. Cô là người có chuyên môn được đào tạo ở trong nước và quốc tế, bên cạnh việc khám chữa bệnh, PGS còn tích cực tham gia nghiên cứu, và tham gia các khóa đào tạo quốc tế, các tọa đàm, hội thảo được tổ chức tại Việt Nam và nhiều nước khác như Australia, Indonesia, Pháp, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Hồng Kong, Hà Lan. PGS Thủy chuyên về các bệnh về khớp và các bệnh về xương.



Tại buổi khám (sáng thứ 2 và sáng thứ 5 hàng tuần) thường khá đông những người bệnh đã theo cô thăm khám định kỳ bao năm nay. PGS Thuỷ luôn khuyên bệnh nhân, mỗi người, khi nhận thấy cơ thể xuất hiện các triệu chứng bất thường nên thăm khám sớm để chẩn đoán chính xác nguyên nhân và có hướng điều trị phù hợp. Người bệnh nên tránh việc tự ý dùng thuốc. Việc lạm dụng thuốc giảm đau, kháng viêm lâu ngày sẽ gây ra các tác dụng phụ hại đến dạ dày, gan, thận…Hầu hết các bệnh xương khớp đều có thể phát hiện và đoán từ rất sớm, vì thế việc thăm khám sức khỏe định kỳ là việc làm rất cần thiết.