All posts by admin

Câu hỏi 2: Các biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch cần cấp cứu là gì? Xin cho biết cách phát hiện và đối phó khi gặp tình huống đó?

Trả lời:

 

Một số biểu hiện cảnh báo bệnh lý tim mạch cần cấp cứu như sau:

 

–         Đau thắt ngực: bệnh nhân đau ngực dữ dội, cảm giác bị bóp nghẹt trong lồng ngực, vị trí cơn đau thường ở phía sau xương ức, đau lan lên vai trái, mặt trong cánh tay trái hoặc lan ra sau lưng… Đây là biểu hiện nghi ngờ bệnh nhồi máy cơ tim. Khi gặp người bệnh có biểu hiện triệu chứng như trên, bạn cần gọi người giúp đỡ đồng thời gọi cấp cứu 115 để họ xử trí ban đầu và đưa người bệnh tới bệnh viện, nếu không gọi được cấp cứu 115, bạn cần đưa người bệnh tới bệnh viện ngay lập tức, không để người bệnh tự đi khám.

 

–         Các biểu hiện ngừng tuần hoàn: người bệnh đột ngột ngất xỉu, mất phản ứng xung quanh, gọi hỏi không biết, ngừng thở, tím tái toàn thân, đôi khi có biểu hiện co giật hoặc mềm nhũn, có thể xuất hiện đại tiểu tiện không tự chủ. Bạn cần gọi người hỗ trợ và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức. Đồng thời bạn cần ép tim – thổi ngạt cho người bệnh ngay. Tư thế ép tim như sau: người cấp cứu quỳ bên cạnh nạn nhân. Đặt hai tay của người cấp cứu (bàn tay phải trên mu bàn tay trái) lên 1/3 dưới xương ức của nạn nhân, ấn mạnh đồng thời cả hai tay cho lồng ngực nạn nhân xẹp xuống. Bạn cần ép tim liên tục thậm chí không cần động tác hà hơi thổi ngạt nếu bạn một mình cấp cứu nạn nhân.

 

–         Các dấu hiệu đột quỵ như đột ngột tê hoặc yếu nửa người (một bên tay chân), ngất hoặc hôn mê, mất hoặc rối loạn khả năng nói, rối loạn thị giác, đột ngột mất thăng bằng và phối hợp các động tác, đau đầu dữ dội, nôn không rõ nguyên nhân. Nếu người bệnh có một trong các triệu chứng trên, cần đưa người bệnh tới ngay bệnh viện hoặc phòng cấp cứu gần nhất.

 

–         Khó thở: người bệnh đột ngột khó thở dữ dội, vã mồ hôi. Cần gọi người cấp cứu và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức. Đồng thời, bạn cho người bệnh nằm đầu cao, cho người bệnh thở oxy nếu có.

 

–         Đau đột ngột chân hoặc tay: Người bệnh đi đau đột ngột chân hoặc tay, đau dữ dội. Chân hoặc tay đau lạnh, nhợt hơn so với bên đối diện. Đây có thể là biểu hiện tắc động mạch cấp tính của chân hoặc tay. Khi gặp người bệnh có biểu hiện này, bạn cần đưa người bệnh đi cấp cứu ngay lập tức để phẫu thuật lấy cục huyết khối trong lòng mạch ở chân hoặc tay của người bệnh.

 

Câu hỏi 1: Tôi hay bị hồi hộp đánh trống ngực, đó có phải là bị bệnh tim mạch không? Xin cho biết những biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch?

Trả lời:

 

Hồi hộp đánh trống ngực là một triệu chứng không đặc hiệu xuất hiện khi có bất thường về nhịp đập của quả tim. Các bất thường về nhịp đập của quả tim như ngoại tâm thu, bỏ nhịp, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim không đều. Để chẩn đoán chính xác liệu có bất thường về nhịp tim hay không, người bệnh cần được làm điện tim đồ hoặc điện tim đồ ghi trong thời gian 24 giờ. Một số nguyên nhân có thể gây ra tình trạng hồi hộp đánh trống ngực như: căng thẳng tâm lý, cường tuyến giáp, tác dụng phụ của một số loại thuốc, bệnh lý động mạch vành, bệnh lý cơ tim hoặc bệnh lý van tim. Đôi khi thầy thuốc không tìm được nguyên nhân gây ra hồi hộp đánh trống ngực, lúc đó cần hỏi xem người bệnh có dùng chất cafein như coffee, chè, cacao, chocolate, soda… hay không, mặt khác cần hỏi về tiền sử sử dụng thuốc như thuốc nhỏ mũi…  

 Một số biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch được mô tả sau đây: 

–         Khó thở: là cảm giác khó khăn khi tiến hành động tác thở. Nếu bạn thấy xuất hiện khó thở không tương xức với mức độ hoạt động thể lực, khó thở xuất hiện đột ngột bạn cần phải đi khám bác sỹ.  

–         Đau thắt ngực: bất kì cơn đau nào như bóp nghẹt ở giữa ngực kéo dài hơn hai phút đều có thể là biểu hiện của bệnh lý tim mạch. Ban cần gọi điện cho bác sỹ và đi khám bệnh ngay lập tức. 

–         Ngất: một số rối loạn nhịp tim hoặc bệnh lý mạch cảnh… có thể gây ra ngất. Cần cấp cứu người bệnh bị ngất tại chỗ trước khi chuyển người bệnh tới bệnh viện.  

–         Phù: thường gặp phù mắt cá chân do các bệnh lý tim mạch. Cần đưa người bệnh đi khám để xác định nguyên nhân gây ra phù chân. 

–         Tím tái: là hiện tượng đổi màu phớt xanh của da và niêm mạc do máu không được bão hòa oxy đầy đủ. Tím tái thường thấy ở đầu các ngón tay và quanh môi. Tương tự như phù, tím tái là một dấu hiệu hơn là một triệu chứng của bệnh tim mạch.  

–         Đau cách hồi: là một dấu hiệu khá đặc hiệu của bệnh động mạch chi dưới. Người bệnh có biểu hiện mỏi chân và đau hoặc chuột rút khi đi lại, sau khi nghỉ thì đỡ đau chân. Độ dài, quãng đường đi hoặc mức độ đau, thời gian hồi phục phản ánh mức độ nặng nhẹ của bệnh tắc động mạch chi dưới. Cần đưa người bệnh đi khám để điều trị kịp thời. 

(Sách giành cho BN – 2010)

Câu hỏi 1: Tôi hay bị hồi hộp đánh trống ngực, đó có phải là bị bệnh tim mạch không? Xin cho biết những biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch?

Trả lời:

 

Hồi hộp đánh trống ngực là một triệu chứng không đặc hiệu xuất hiện khi có bất thường về nhịp đập của quả tim. Các bất thường về nhịp đập của quả tim như ngoại tâm thu, bỏ nhịp, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim không đều. Để chẩn đoán chính xác liệu có bất thường về nhịp tim hay không, người bệnh cần được làm điện tim đồ hoặc điện tim đồ ghi trong thời gian 24 giờ. Một số nguyên nhân có thể gây ra tình trạng hồi hộp đánh trống ngực như: căng thẳng tâm lý, cường tuyến giáp, tác dụng phụ của một số loại thuốc, bệnh lý động mạch vành, bệnh lý cơ tim hoặc bệnh lý van tim. Đôi khi thầy thuốc không tìm được nguyên nhân gây ra hồi hộp đánh trống ngực, lúc đó cần hỏi xem người bệnh có dùng chất cafein như coffee, chè, cacao, chocolate, soda… hay không, mặt khác cần hỏi về tiền sử sử dụng thuốc như thuốc nhỏ mũi…  

 Một số biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch được mô tả sau đây: 

–         Khó thở: là cảm giác khó khăn khi tiến hành động tác thở. Nếu bạn thấy xuất hiện khó thở không tương xức với mức độ hoạt động thể lực, khó thở xuất hiện đột ngột bạn cần phải đi khám bác sỹ.  

–         Đau thắt ngực: bất kì cơn đau nào như bóp nghẹt ở giữa ngực kéo dài hơn hai phút đều có thể là biểu hiện của bệnh lý tim mạch. Ban cần gọi điện cho bác sỹ và đi khám bệnh ngay lập tức. 

–         Ngất: một số rối loạn nhịp tim hoặc bệnh lý mạch cảnh… có thể gây ra ngất. Cần cấp cứu người bệnh bị ngất tại chỗ trước khi chuyển người bệnh tới bệnh viện.  

–         Phù: thường gặp phù mắt cá chân do các bệnh lý tim mạch. Cần đưa người bệnh đi khám để xác định nguyên nhân gây ra phù chân. 

–         Tím tái: là hiện tượng đổi màu phớt xanh của da và niêm mạc do máu không được bão hòa oxy đầy đủ. Tím tái thường thấy ở đầu các ngón tay và quanh môi. Tương tự như phù, tím tái là một dấu hiệu hơn là một triệu chứng của bệnh tim mạch.  

–         Đau cách hồi: là một dấu hiệu khá đặc hiệu của bệnh động mạch chi dưới. Người bệnh có biểu hiện mỏi chân và đau hoặc chuột rút khi đi lại, sau khi nghỉ thì đỡ đau chân. Độ dài, quãng đường đi hoặc mức độ đau, thời gian hồi phục phản ánh mức độ nặng nhẹ của bệnh tắc động mạch chi dưới. Cần đưa người bệnh đi khám để điều trị kịp thời. 

(Sách giành cho BN – 2010)

Bệnh nhân đầu tiên tại Việt Nam được can thiệp kẹp sửa van tim qua da thành công

Bệnh nhân đầu tiên tại Việt Nam được can thiệp kẹp sửa van tim qua da thành công
Ngày 21/09/2014, tại Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành can thiệp “Mitral clip” – kẹp sửa van hai lá (một trong bốn van tim) thành công để sửa chữa làm giảm mức độ hở van mà không cần phải tiến hành phẫu thuật mở tim.
 

PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, TS.BS Nguyễn Ngọc Quang, ThS.BS Đinh Huỳnh Linh và Bác sĩ Yeo Khung Keong đang lái dụng cụ kẹp van hai lá dưới hướng dẫn của màn tăng sáng và siêu âm qua thực quản bằng đầu dò 3D.

 
Người bình thường có bốn bộ van tim hoạt động đóng và mở nhịp nhàng theo sự co bóp của cơ tim nhằm mục đích bơm máu hiệu quả đi nuôi cơ thể và trao đổi tại phổi. Hở van hai lá là tình trạng van hai lá đóng không kín, khiến cho lượng máu bơm đi nuôi toàn cơ thể bị giảm đi, đồng thời thay đổi cấu trúc buồng tim. Ở những bệnh nhân hở van hai lá mức độ nhiều sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến chức năng bơm máu của quả tim, từ đó dẫn đến suy tim nặng hơn. Các nguyên nhân chính gây hở van hai lá bao gồm thấp tim, thoái hóa gây sa van, giãn vòng van sau các bệnh nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim cục bộ… Khi hở van hai lá nặng ảnh hưởng đến chức năng của tim thì có chỉ định sửa van. Trước đây người ta thường phẫu thuật sửa hoặc thay van hai lá nhân tạo. Tuy nhiên ngày càng nhiều bệnh nhân từ chối phẫu thuật hoặc không đủ tiêu chuẩn phẫu thuật do cao tuổi hoặc có các bệnh khác kèm theo. Chính vì vậy phương pháp can thiệp kẹp sửa van hai lá qua da để làm giảm mức độ hở van hai lá đã ra đời.

PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, TS.BS Nguyễn Ngọc Quang, ThS.BS Đinh Huỳnh Linh và Bác sĩ Yeo Khung Keong đang lái dụng cụ kẹp van hai lá dưới hướng dẫn của màn tăng sáng và siêu âm qua thực quản bằng đầu dò 3D.

 
Theo PGS.TS. Đỗ Doãn Lợi, Phó Giám Đốc Bệnh viện Bạch Mai, Viện Trưởng Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam, được sự ủng hộ của Ban Giám Đốc và Hội đồng khoa học Bệnh viện Bạch Mai, đây là một trong những bước tiến quan trọng của Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam nhằm ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để cứu chữa bệnh nhân tim mạch.
 
Sau 6 tháng chuẩn bị, buổi can thiệp đã diễn ra hết sức thành công với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành về can thiệp tim mạch trong khu vực như PGS.TS. Phạm Mạnh Hùng – trưởng đơn vị can thiệp tim mạch – Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam, Tổng thư ký hội tim mạch Việt Nam; Bác sỹ Yeo Khung Keong – Trung tâm tim mạch quốc gia Singapore, ThS.BS Đinh Huỳnh Linh, TS.BS. Nguyễn Ngọc Quang– Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam; Các chuyên gia hàng đầu về siêu âm như TS.BS. Nguyễn Thị Thu Hoài– phó trưởng phòng siêu âm tim mạch, Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam, cùng với sự tham gia của ông Simon Bain, chuyên gia về siêu âm đến từ Singapore.
 

Đội ngũ bác sĩ, chuyên gia tham gia thực hiện thành công ca can thiệp kẹp sửa van hai lá qua da đầu tiên ở Việt Nam.

 
Đây là một kỹ thuật phức tạp được phát triển đầu tiên bởi hãng Abbott – Mỹ và hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Kỹ thuật này đòi hỏi sự kết hợp của đơn vị can thiệp tim mạch để lái dụng cụ kẹp van dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật siêu âm tim qua thực quản sử dụng đầu dò 3D – dựng hình buồng tim trong không gian. Việc tránh cho bệnh nhân phải chịu một cuộc phẫu thuật mở tim cũng giúp cho quá trình phục hồi của bệnh nhân được nhanh hơn và rõ ràng hơn. Kết quả là tình trạng hở van hai lá của bệnh nhân đã được giảm đáng kể.
 
Thành công bước đầu này hứa hẹn sẽ mang lại cho bệnh nhân thêm nhiều lợi ích hơn nữa nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật được ứng dụng trong Y học. Hi vọng trong tương lai gần, kỹ thuật này sẽ được ứng dụng rộng rãi hơn nữa tại Việt Nam.
 
Theo: Bác sĩ Thanh Huyền (Sức khỏe & Đời sống).

Bệnh nhân đầu tiên tại Việt Nam được can thiệp kẹp sửa van tim qua da thành công

Bệnh nhân đầu tiên tại Việt Nam được can thiệp kẹp sửa van tim qua da thành công
Ngày 21/09/2014, tại Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành can thiệp “Mitral clip” – kẹp sửa van hai lá (một trong bốn van tim) thành công để sửa chữa làm giảm mức độ hở van mà không cần phải tiến hành phẫu thuật mở tim.
 

PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, TS.BS Nguyễn Ngọc Quang, ThS.BS Đinh Huỳnh Linh và Bác sĩ Yeo Khung Keong đang lái dụng cụ kẹp van hai lá dưới hướng dẫn của màn tăng sáng và siêu âm qua thực quản bằng đầu dò 3D.

 
Người bình thường có bốn bộ van tim hoạt động đóng và mở nhịp nhàng theo sự co bóp của cơ tim nhằm mục đích bơm máu hiệu quả đi nuôi cơ thể và trao đổi tại phổi. Hở van hai lá là tình trạng van hai lá đóng không kín, khiến cho lượng máu bơm đi nuôi toàn cơ thể bị giảm đi, đồng thời thay đổi cấu trúc buồng tim. Ở những bệnh nhân hở van hai lá mức độ nhiều sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến chức năng bơm máu của quả tim, từ đó dẫn đến suy tim nặng hơn. Các nguyên nhân chính gây hở van hai lá bao gồm thấp tim, thoái hóa gây sa van, giãn vòng van sau các bệnh nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim cục bộ… Khi hở van hai lá nặng ảnh hưởng đến chức năng của tim thì có chỉ định sửa van. Trước đây người ta thường phẫu thuật sửa hoặc thay van hai lá nhân tạo. Tuy nhiên ngày càng nhiều bệnh nhân từ chối phẫu thuật hoặc không đủ tiêu chuẩn phẫu thuật do cao tuổi hoặc có các bệnh khác kèm theo. Chính vì vậy phương pháp can thiệp kẹp sửa van hai lá qua da để làm giảm mức độ hở van hai lá đã ra đời.

PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, TS.BS Nguyễn Ngọc Quang, ThS.BS Đinh Huỳnh Linh và Bác sĩ Yeo Khung Keong đang lái dụng cụ kẹp van hai lá dưới hướng dẫn của màn tăng sáng và siêu âm qua thực quản bằng đầu dò 3D.

 
Theo PGS.TS. Đỗ Doãn Lợi, Phó Giám Đốc Bệnh viện Bạch Mai, Viện Trưởng Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam, được sự ủng hộ của Ban Giám Đốc và Hội đồng khoa học Bệnh viện Bạch Mai, đây là một trong những bước tiến quan trọng của Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam nhằm ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để cứu chữa bệnh nhân tim mạch.
 
Sau 6 tháng chuẩn bị, buổi can thiệp đã diễn ra hết sức thành công với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành về can thiệp tim mạch trong khu vực như PGS.TS. Phạm Mạnh Hùng – trưởng đơn vị can thiệp tim mạch – Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam, Tổng thư ký hội tim mạch Việt Nam; Bác sỹ Yeo Khung Keong – Trung tâm tim mạch quốc gia Singapore, ThS.BS Đinh Huỳnh Linh, TS.BS. Nguyễn Ngọc Quang– Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam; Các chuyên gia hàng đầu về siêu âm như TS.BS. Nguyễn Thị Thu Hoài– phó trưởng phòng siêu âm tim mạch, Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam, cùng với sự tham gia của ông Simon Bain, chuyên gia về siêu âm đến từ Singapore.
 

Đội ngũ bác sĩ, chuyên gia tham gia thực hiện thành công ca can thiệp kẹp sửa van hai lá qua da đầu tiên ở Việt Nam.

 
Đây là một kỹ thuật phức tạp được phát triển đầu tiên bởi hãng Abbott – Mỹ và hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Kỹ thuật này đòi hỏi sự kết hợp của đơn vị can thiệp tim mạch để lái dụng cụ kẹp van dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật siêu âm tim qua thực quản sử dụng đầu dò 3D – dựng hình buồng tim trong không gian. Việc tránh cho bệnh nhân phải chịu một cuộc phẫu thuật mở tim cũng giúp cho quá trình phục hồi của bệnh nhân được nhanh hơn và rõ ràng hơn. Kết quả là tình trạng hở van hai lá của bệnh nhân đã được giảm đáng kể.
 
Thành công bước đầu này hứa hẹn sẽ mang lại cho bệnh nhân thêm nhiều lợi ích hơn nữa nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật được ứng dụng trong Y học. Hi vọng trong tương lai gần, kỹ thuật này sẽ được ứng dụng rộng rãi hơn nữa tại Việt Nam.
 
Theo: Bác sĩ Thanh Huyền (Sức khỏe & Đời sống).