All posts by admin

Câu hỏi 36: Có khi nào bị bệnh động mạch vành mà không đau ngực không?

Thực tế có một số trường hợp bị bệnh động mạch vành nhất là nhồi máu cơ tim mà không có cảm giác đau ngực rõ rệt (còn gọi là nhồi máu cơ tim thầm lặng). Hiện tượng này hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, bệnh nhân bị đái tháo đường, tăng huyết áp,… Do vậy, cần cảnh giác khi bạn là người có nhiều yếu tố nguy cơ mà có những triệu chứng mơ hồ về đau ngực và thấy khó thở hoặc khó chịu ở vùng ngực thì nên đi đến bác sỹ khám ngay.

Như vậy, bạn càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc đánh giá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bản thân. Tùy vào mức độ các yếu tố nguy cơ của bạn mà bạn cần được khám theo dõi thường xuyên định kỳ, phát hiện sớm các biến chứng nhất là khi biểu hiện rất mơ hồ, không rõ ràng, từ đó có biện pháp điều trị kịp thời.

Câu hỏi 35: Tôi nghe nói bị bệnh động mạch vành rất nguy hiểm? có các loại bệnh động mạch vành như thế nào? Làm sao biết tôi có bị bệnh động mạch vành hay không?

Thật vậy, bệnh động mạch vành rất nguy hiểm. Theo ước tính hiện ở Mỹ có khoảng gần 7 triệu người bị bệnh động mạch vành và hàng năm có thêm khoảng 350.000 người bị đau thắt ngực mới. Tỷ lệ này ở các nước phát triển khác cũng rất đáng lo ngại. Tại châu Âu, có tới 600.000 bệnh nhân từ vong mỗi năm do bệnh động mạch vành và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam, bệnh động mạch vành đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và gây nhiều thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch

Bệnh của động mạch vành thường bao gồm 3 dạng bệnh lý như sau:

–         Đau thắt ngực ổn định là tình trạng không có những diễn biến nặng lên bất ổn của cơn đau thắt ngực trong vòng vài tuần gần đây. Với đau thắt ngực ổn định thì tình trạng lâm sàng thường ổn định, cơn đau thắt ngực ngắn, xảy ra khi gắng sức, đỡ khi nghỉ và đáp ứng tốt với các thuốc nhóm Nitrates. Đau thắt ngực ổn định thường liên quan đến sự ổn định của mảng xơ vữa.

–         Đau thắt ngực không ổn định là tình trạng bất ổn về lâm sàng, cơn đau thắt ngực xuất hiện nhiều và dài hơn, xảy ra cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi và cơn đau ít đáp ứng với các Nitrates. Cơn đau này thường liên quan đến tình trạng bất ổn của mảng xơ vữa động mạch vành. Đau thắt ngực không ổn định có thể dẫn tới Nhồi máu cơ tim (NMCT) hoặc ổn định lại để thành đau thắt ngực ổn định.

–         Nhồi máu cơ tim là tình trạng bị tắc hoàn toàn động mạch vành (ĐMV) một cách nhanh chóng gây hoại tử vùng cơ tim phía sau phần nuôi dưỡng của đoạn ĐMV bị tắc. Về cơ chế gây NMCT cũng giống phần nào so với cơn đau thắt ngực không ổn định là do sự nứt vỡ của mảng xơ vữa và gây huyết khối bịt tắc hoàn toàn ĐMV.

 

Vậy chẩn đoán bệnh như thế nào?

Nếu bạn có những triệu chứng của bệnh bạn nên đi khám bác sĩ. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn làm các xét nghiệm cần thiết như:

–         Điện tâm đồ (ĐTĐ) thường quy là một thăm dò đơn giản giúp chẩn đoán bệnh.

–         Xét nghiệm máu: các men tim có trong máu có thể bình thường hoặc tăng trong nhồi máu cơ tim.

–         Siêu âm tim: thường giúp ích cho chẩn đoán rối loạn vận động vùng (nếu có), đánh giá chức năng thất trái (đặc biệt sau nhồi máu cơ tim) và các bệnh lý tổn thương van tim kèm theo hoặc giúp cho các bác sĩ chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác.

–         Nghiệm pháp gắng sức là phương pháp ghi lại những thay đổi của trái tim khi bạn phải hoạt động gắng sức. Như chúng ta đã biết, khi nghỉ thì dù bạn có bị hẹp ĐMV nhưng vẫn đủ khả năng để nuôi dưỡng cho phần cơ tim nên có thể sẽ không phát hiện đượng những biến đổi trên các biện pháp thăm dò thông thường (điện tim đồ, phóng xạ đồ, siêu âm tim..). Khi phải gằng sức đỏi hỏi nhu cầu cao hơn thì nơi ĐMV bị hẹp sẽ không đủ khả năng cung cấp ô xy cho cơ tim phía sau và khi đó mới lộ ra những thay đổi của việc thiếu máu cơ tim trên các thăm dò. Điện tim đồ gắng sức là một biện pháp khá hữu hiệu và kinh điển. Bạn sẽ được yêu cầu đạp xe với tốc độ tăng dần hoặc chạy trên thảm chạy có chương trình với tốc độ tăng dần, đồng thời bạn được gắn điện tim để ghi theo các diễn biến. Qua đó bác sỹ có thể biết được bạn có thể bị bệnh ĐMV hay không và mức độ như thế nào. Kết quả này có thể hướng tới các thăm dò chính xác hơn.

–         Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thông tim và chụp mạch vành. Đây là biện pháp tốt nhất và hiện đại nhất cho phép chẩn đoán bệnh lý động mạch vành bởi vì nó cho phép người bác sĩ có thể nhìn thấy chính xác động mạch vành nào bị hẹp hay tắc dưới màn huỳnh quang tăng sáng.

Câu hỏi 35: Tôi nghe nói bị bệnh động mạch vành rất nguy hiểm? có các loại bệnh động mạch vành như thế nào? Làm sao biết tôi có bị bệnh động mạch vành hay không?

Thật vậy, bệnh động mạch vành rất nguy hiểm. Theo ước tính hiện ở Mỹ có khoảng gần 7 triệu người bị bệnh động mạch vành và hàng năm có thêm khoảng 350.000 người bị đau thắt ngực mới. Tỷ lệ này ở các nước phát triển khác cũng rất đáng lo ngại. Tại châu Âu, có tới 600.000 bệnh nhân từ vong mỗi năm do bệnh động mạch vành và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam, bệnh động mạch vành đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và gây nhiều thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch

Bệnh của động mạch vành thường bao gồm 3 dạng bệnh lý như sau:

–         Đau thắt ngực ổn định là tình trạng không có những diễn biến nặng lên bất ổn của cơn đau thắt ngực trong vòng vài tuần gần đây. Với đau thắt ngực ổn định thì tình trạng lâm sàng thường ổn định, cơn đau thắt ngực ngắn, xảy ra khi gắng sức, đỡ khi nghỉ và đáp ứng tốt với các thuốc nhóm Nitrates. Đau thắt ngực ổn định thường liên quan đến sự ổn định của mảng xơ vữa.

–         Đau thắt ngực không ổn định là tình trạng bất ổn về lâm sàng, cơn đau thắt ngực xuất hiện nhiều và dài hơn, xảy ra cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi và cơn đau ít đáp ứng với các Nitrates. Cơn đau này thường liên quan đến tình trạng bất ổn của mảng xơ vữa động mạch vành. Đau thắt ngực không ổn định có thể dẫn tới Nhồi máu cơ tim (NMCT) hoặc ổn định lại để thành đau thắt ngực ổn định.

–         Nhồi máu cơ tim là tình trạng bị tắc hoàn toàn động mạch vành (ĐMV) một cách nhanh chóng gây hoại tử vùng cơ tim phía sau phần nuôi dưỡng của đoạn ĐMV bị tắc. Về cơ chế gây NMCT cũng giống phần nào so với cơn đau thắt ngực không ổn định là do sự nứt vỡ của mảng xơ vữa và gây huyết khối bịt tắc hoàn toàn ĐMV.

 

Vậy chẩn đoán bệnh như thế nào?

Nếu bạn có những triệu chứng của bệnh bạn nên đi khám bác sĩ. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn làm các xét nghiệm cần thiết như:

–         Điện tâm đồ (ĐTĐ) thường quy là một thăm dò đơn giản giúp chẩn đoán bệnh.

–         Xét nghiệm máu: các men tim có trong máu có thể bình thường hoặc tăng trong nhồi máu cơ tim.

–         Siêu âm tim: thường giúp ích cho chẩn đoán rối loạn vận động vùng (nếu có), đánh giá chức năng thất trái (đặc biệt sau nhồi máu cơ tim) và các bệnh lý tổn thương van tim kèm theo hoặc giúp cho các bác sĩ chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác.

–         Nghiệm pháp gắng sức là phương pháp ghi lại những thay đổi của trái tim khi bạn phải hoạt động gắng sức. Như chúng ta đã biết, khi nghỉ thì dù bạn có bị hẹp ĐMV nhưng vẫn đủ khả năng để nuôi dưỡng cho phần cơ tim nên có thể sẽ không phát hiện đượng những biến đổi trên các biện pháp thăm dò thông thường (điện tim đồ, phóng xạ đồ, siêu âm tim..). Khi phải gằng sức đỏi hỏi nhu cầu cao hơn thì nơi ĐMV bị hẹp sẽ không đủ khả năng cung cấp ô xy cho cơ tim phía sau và khi đó mới lộ ra những thay đổi của việc thiếu máu cơ tim trên các thăm dò. Điện tim đồ gắng sức là một biện pháp khá hữu hiệu và kinh điển. Bạn sẽ được yêu cầu đạp xe với tốc độ tăng dần hoặc chạy trên thảm chạy có chương trình với tốc độ tăng dần, đồng thời bạn được gắn điện tim để ghi theo các diễn biến. Qua đó bác sỹ có thể biết được bạn có thể bị bệnh ĐMV hay không và mức độ như thế nào. Kết quả này có thể hướng tới các thăm dò chính xác hơn.

–         Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thông tim và chụp mạch vành. Đây là biện pháp tốt nhất và hiện đại nhất cho phép chẩn đoán bệnh lý động mạch vành bởi vì nó cho phép người bác sĩ có thể nhìn thấy chính xác động mạch vành nào bị hẹp hay tắc dưới màn huỳnh quang tăng sáng.

Câu hỏi 34: Tôi nữ giới 27 tuổi hay bị đau nhói ngực, có phải bị đau tim không? có phải là bị bệnh động mạch vành không?

Đau ngực là một trong những lý do khiến bệnh nhân nữ trẻ tuổi phải đến khám bác sĩ tim mạch nhiều nhất. Và một quan điểm phổ biến của đại đa số người dân cho rằng đau ngực là do bệnh tim mạch, là do nhồi máu cơ tim. Chính điều này làm cho bệnh nhân rất lo lắng.

Tuy nhiên, chứng cứ khoa học đã khẳng định rõ ràng rằng bệnh mạch vành hoặc nhồi máu cơ tim rất hiếm khi gặp ở bệnh nhân nữ trẻ tuổi. Do Estrogen là hormon sinh dục nữ có tác dụng chống lại sự hình thành và phát triển của mảng xơ vữa trong lòng mạch vành là nguyên nhân gây ra nhồi máu cơ tim. Khi mãn kinh, lượng hormon này giảm xuống và lúc này nguy cơ tim mạch và bệnh mạch vành tăng lên đáng kể.

Các nguyên nhân gây ra đau ngực hay gặp ở lứa tuổi của bạn có thể là: bệnh van tim do thấp, hẹp van hai lá, sa van hai lá, viêm màng ngoài tim. Nhồi máu phổi hay gặp ở những bệnh nhân dùng thuốc tránh thai. Các nguyên nhân không phải tim mạch như viêm phổi, viêm màng phổi, trào ngược dạ dày thực quản, viêm sụn sườn, đau dây thần kinh liên sườn, bệnh zona. Một nguyên nhân nữa cũng hay gặp trong xã hội hiện đại là do lo lắng, căng thẳng, stress.

Như vậy, bạn hoàn toàn có thể yên tâm rằng nguy cơ bị bệnh mạch vành là rất thấp. Tuy nhiên như đã nói ở trên có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau ngực nên bạn cần phải đi khám để được chẩn đoán và điều trị đúng bệnh.

Câu hỏi 33: Em gái tôi 25 tuổi, được chẩn đoán bị bệnh tim bẩm sinh chưa điều trị gì. Em gái tôi muốn lấy chồng và có con được không?

Được làm vợ và làm mẹ và có một gia đình hạnh phúc là niềm khát khao của bất kỳ người phụ nữ nào. Tuy nhiên khi không may bị bệnh tim bẩm sinh, liệu người phụ nữ có thể thực hiện được thiên chức làm mẹ được không?

Câu trả lời là “Có thể”. Để có câu trả lời chính xác phải dựa vào loại bệnh tim bẩm sinh mà bạn mắc phải. Nếu tổn thương đơn giản, bệnh nhân không có triệu chứng biểu hiện gì thì hoàn toàn CÓ thể mang thai. Còn nếu tổn thương nặng, phức tạp với những biểu hiện bệnh nặng nề thì câu trả lời là KHÔNG, ví dụ như những bệnh nhân bị tăng áp động mạch phổi, hội chứng Eisenmenger’s, tim bẩm sinh có tím, …

Khi mang thai, cơ thể người mẹ thay đổi rất nhiều cụ thể là: cung lượng tim tăng khá sớm và tăng cực đại là 50% trong quý 2 của thai kỳ, nhịp tim tăng 10-20% chính vì vậy làm cho quả tim của bạn phải làm việc nhiều hơn. Những nguy cơ có thể gặp phải khi mang thai đối với những bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh là: rối loạn nhịp tim, huyết khối, tai biến mạch não, suy tim, phù phổi cấp, mất máu sau đẻ, các thuốc đang dùng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, đứa trẻ cũng có thể bị suy dinh dưỡng, bị tim bẩm sinh do di truyền hoặc do tình trạng thiếu oxy trong máu của mẹ hoặc tình trạng giảm lượng máu tới thai do tình trạng suy tim của mẹ.

Chính vì vậy trước khi quyết định mang thai, bạn nhất thiết phải đi khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch để bác sĩ cân nhắc và đưa ra quyết định bạn có thể mang thai được không và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi mang thai là gì, những nguy cơ đối với tình trạng thai là gì. Từ đó quyết định có thể mang thai được hay không sẽ được đưa ra dựa trên hiểu biết đầy đủ cũng như trao đổi cặn kẽ giữa bác sỹ và bạn.

Cuối cùng chúc bạn “mẹ tròn, con vuông”.

Câu hỏi 32: Tôi bị bệnh tim đang điều trị, có thể hoạt động tình dục được không?

Câu trả lời là bạn vẫn có thể tiếp tục sinh hoạt tình dục, nhưng cần có sự hiểu biết và tôn trọng những lời khuyên của thầy thuốc.

Có nhiều người coi hoạt động tình dục chỉ là những hành vi giao hợp đơn thuần. Nhưng tình dục còn có ý nghĩa nhiều hơn thế. Bạn có thể thể hiện ham muốn tình dục của mình theo nhiều cách.

Bạn có thể ôm ấp hay vuốt ve bạn tình mà không nhằm mục đích đạt cực khoái. Các bạn vẫn có cảm giác được yêu thương và che chở mà không phải gắng sức thể lực quá nhiều. Chẳng cần quá nhiều năng lượng cho những cử chỉ ôm ấp vuốt ve, và việc ấy hoàn toàn có thể diễn ra ngay khi bạn xuất viện. Bạn có thể quay lại chuyện sinh hoạt tình dục một cách từ từ. Khi tự tin hơn, bạn sẽ thấy thư giãn hơn với bản thân và với bạn tình của mình.

Hoạt động giao hợp đòi hỏi nhiều năng lượng hơn đôi chút. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn đợi đến khi sức khoẻ khá lên. Đa số bắt đầu lại chuyện giao hợp khoảng 4 đến 6 tuần sau cơn đau ngực. Những bệnh nhân không có biến chứng có thể sớm hơn, sau 7 đến 10 ngày. Đối với phẫu thuật tim mạch, khoảng thời gian này thường là 2 đến 3 tuần. Theo ước tính, nếu bạn có thể đi bộ lên 3 tầng thang gác một cách bình thường, bạn có thể trở lại hoạt động tình dục một cách từ từ và bình thường.

Nếu bạn không chắc chắn về tình trạng sức khoẻ của mình, bác sĩ có thể cho bạn làm nghiệm pháp gắng sức để đánh giá khả năng gắng sức của bạn. Dựa trên nhịp tim và huyết áp, thày thuốc sẽ quyết định bạn đã có thể sinh hoạt tình dục hay chưa.

Nếu các triệu chứng xuất hiện khi bạn quan hệ tình dục, hãy ngừng lại và nằm nghỉ. Sau đó đến khám bác sĩ.