All posts by admin

Câu hỏi 45: Tôi đã được đặt stent động mạch vành loại phủ thuốc? Xin cho hỏi stent này tồn tại được bao lâu? Có nguy cơ gì không?

Stent là một khung đỡ bằng kim loại được đặt trong lòng động mạch vành, nhằm mục đích mở rộng lòng mạch vành bị hẹp và giữ nó không bị hẹp lại. Có hai loại stent mạch vành: stent thường và stent phủ thuốc. Stent phủ thuốc được tráng một lớp thuốc đặc biệt, lớp thuốc này sẽ được giải phóng dần dần vào lòng mạch sau khi đặt stent, ngăn ngừa tiến triển của mô sẹo. Qua đó giúp lòng mạch luôn trơn nhẵn và mạch vành không bị hẹp lại. Tỉ lệmạch vành bị hẹp trở lại khi  dùng stent phủ thuốc thấp hơn đáng kể so với khi sử dụng stent loại thường.

Stent phủ thuốc là một bước tiến lớn của ngành tim mạch can thiệp. Ngày càng có nhiều bệnh nhân được điều trị thành công bằng stent phủ thuốc. Nếu bạn được đặt stent phủ thuốc, có một số nguy cơ bạn cần lưu ý.

Đầu tiên, stent phủ thuốc làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông trong lòng mạch. Cụcmáu đông gây tắc stent là một biến chứng cấp tính và có tỉ lệ tử vong cao. Để ngăn ngừa nguy cơ này, bạn phải uống thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel) đều đặn vàkhông được tự ý bỏ thuốc. Nhiều nghiên cứu lớn tại Mỹ và Anh cho thấy bỏ thuốc có liên quan mật thiết với tỉ lệ tắc lại stent và sự gia tăng tỷ lệ tử vong.

Thứ hai, dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (như aspirin, clopidogrel) kéo dài đồng nghĩa với nguy cơ chảy máu tăng lên, đặc biệt là chảy máu dạ dày. Hãy báo cho thầy thuốc biết nếu bạn có sẵn các tình trạng bệnh lý dễ chảy máu hay bệnh viêm loét dạ dày tá tràng. Đi khám thường xuyên để bác sỹ theo dõi và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp nhất cho bạn.

Cuối cùng, stent phủ thuốc hạn chế chứ không ngăn ngừa hoàn toàn hiện tượng tái hẹp. Vì thế dù tỷ lệ rất thấp, lòng mạch chỗ đặt stent vẫn có thể bị hẹp lại sau một thời gian đặt stent phủ thuốc nhất là nếu bạn không uống thuốc đều. Khi được điều trị nội khoa phù hợp và đầy đủ, stent phủ thuốc tương đối an toàn cho người bệnh.

Câu hỏi 44: Xin phân biệt giữa đau thắt ngực ổn định và không ổn định?

Đau thắt ngực ổn định và không ổn định đều là các biểu hiện của bệnh mạch vành. Phân biệt hai tình trạng này rất quan trọng.

Cơn đau thắt ngực ổn định là hậu quả của sự hẹp cố định động mạch vành, do mảng xơ vữa mạch vành ổn định. Khi mạch vành bị hẹp, lưu lượng máu nuôi cơ tim bị giảm đi , dẫn đến triệu chứng đau ngực, nhất là khi người bệnh hoạt động gắng sức hay bị stress tâm lý. Tuy nhiên, nếu người bệnh nghỉ ngơi, nhịp tim chậm lại, động mạch vành lại có thể đáp ứng được nhu cầu oxy của cơ tim, nhờ vậy triệu chứng đau ngực sẽ mất đi.

Cơn đau thắt ngực không ổn định xuất hiện do sự giảm đột ngột của dòng máu mạch vành nuôi cơ tim, thường do nứt vỡ mảng xơ vữa dẫn đến bít tắc đột ngột một phần hoặc toàn bộ lòng mạch. Khác với đau thắt ngực ổn định (gặp khi bệnh nhân gắng sức), đau thắt ngực không ổn định có thể gặp kể cả khi người bệnh nghỉ ngơi, đang ngủ, hoặc sinh hoạt bình thường. Triệu chứng đau ngực thường dữ dội hơn, kéo dài hơn. Các cơn đau có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều, với cường độ đau tăng dần. Đau thắt ngực không ổn định có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim và đe dọa nghiêm trọng tính mạng người bệnh.

Câu hỏi 43: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Bệnh này có chữa được không? Chữa như thế nào?

Các biện pháp điều trị đau thắt ngực ổn định bao gồm: điều trị bằng thuốc, can thiệp động mạch vành, và phẫu thuật.

 

Đau thắt ngực ổn định là một biểu hiện của bệnh mạch vành. Để kiểm soát tốt bệnh mạch vành, bạn phải được theo dõi định kỳ bởi thầy thuốc chuyên khoa và uống thuốc liên tục. Các thuốc dùng để điều trị đau thắt ngực ổn định thường bao gồm: nitroglycerin, thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel), thuốc giảm mỡ máu, thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển hoặc một số thuốc tim mạch khác. Hãy đi khám bác sỹ đều đặn, bác sỹ sẽ cho bạn đơn thuốc phù hợp. Điều trị nội khoa tối ưu có thể cải thiện cơn đau ngực, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm tỉ lệ suy tim, giảm tỉ lệ nhập viện vì cơn đau ngực, cũng như giảm tỉ lệ tử vong của người bệnh. Thầy thuốc cũng sẽ tư vấn cho bạn chế độ dinh dưỡng và tập luyện thích hợp.

Can thiệp động mạch vành là thủ thuật mở thông nhánh động mạch vành bị hẹp. Nhờ một ống thông đưa vào lòng mạch qua da, thầy thuốc sẽ dùng một quả bóng nong rộng mạch vành, và đặt vào đó một giá đỡ kim loại (stent) để giúp mạch vành không bị hẹp lại. Qua đó tăng cường lượng máu cung cấp cho cơ tim và cải thiện các triệu chứng của người bệnh.

Phẫu thuật là biện pháp tạo một cầu nối vượt qua chỗ mạch vành bị hẹp, nhờ đó cải thiện dòng máu giàu oxy đi đến cơ tim.

Cần nhớ là ngay cả khi đã được can thiệp mạch vành hay phẫu thuật thì bạn vẫn phải tiếp tục uống thuốc định kỳ, đều đặn. Ngừng thuốc có thể dẫn đến những hậu quả nghiệm trọng và đe dọa tính mạng.

Câu hỏi 42: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Tôi rất lo lắng, xin cho biết bệnh này là gì? Tại sao tôi lại bị?

Đau thắt ngực ổn định là tình trạng tức ngực xuất hiện khi cơ tim bị thiếu oxy, thường gặp nhất là sau khi phải gắng sức, bị căng thẳng tâm lý hay tiếp xúc với khí hậu lạnh,…

Nguyên nhân của đau thắt ngực ổn định là do tổn thương hẹp động mạch vành. Cơ tim của bạn làm việc liên tục, cả ngày lẫn đêm, vì thế nó cần được cung cấp oxy liên tục. Cơ tim lấy oxy từ các động mạch vành cấp máu nuôi tim. Khi cơ tim làm việc nhiều hơn bình thường, nhu cầu oxy cũng cao hơn. Nếu động mạch vành không cấp đủ oxy cho cơ tim (mạch vành bị hẹp hoặc tắc, do xơ vữa mạch máu, hoặc do cục máu đông), sẽ xuất hiện các triệu chứng của cơn đau thắt ngực.

Người bệnh thường đau theo cơn. Cơn đau điển hình là đau sau xương ức, hơi lệch trái, đau bóp nghẹt ngực hoặc đau nhói như dao đâm. Đau có thể lan lên cổ, lên cằm, hoặc lan ra sau lưng hay lan xuống cánh tay. Cơn đau tiến triển tăng dần, kéo dài khoảng 15 đến 30 phút. Cơn đau giảm đi khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc. Các triệu chứng kèm theo thường là vã mồ hôi lạnh, hoa mắt chóng mặt, đau đầu, nôn, buồn nôn, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi… Mặc dù không nặng nề như nhồi máu cơ tim hay đau thắt ngực không ổn định, nhưng cơn đau thắt ngực ổn định cũng có thể nguy hiểm tính mạng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người bệnh. Nếu được chẩn đoán đau thắt ngực ổn định, bạn cần phải đi khám định kỳ và được theo dõi bởi thầy thuốc chuyên khoa tim mạch.

Bạn có nguy cơ cao tổn thương động mạch vành và xuất hiện triệu chứng của cơn đau thắt ngực nếu bạn thuộc một trong những nhóm đối tượng sau: nam giới, tuổi cao, hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn mỡ máu, tiền sử gia đình có người thân bị bệnh mạch vành…

Câu hỏi 42: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Tôi rất lo lắng, xin cho biết bệnh này là gì? Tại sao tôi lại bị?

Đau thắt ngực ổn định là tình trạng tức ngực xuất hiện khi cơ tim bị thiếu oxy, thường gặp nhất là sau khi phải gắng sức, bị căng thẳng tâm lý hay tiếp xúc với khí hậu lạnh,…

Nguyên nhân của đau thắt ngực ổn định là do tổn thương hẹp động mạch vành. Cơ tim của bạn làm việc liên tục, cả ngày lẫn đêm, vì thế nó cần được cung cấp oxy liên tục. Cơ tim lấy oxy từ các động mạch vành cấp máu nuôi tim. Khi cơ tim làm việc nhiều hơn bình thường, nhu cầu oxy cũng cao hơn. Nếu động mạch vành không cấp đủ oxy cho cơ tim (mạch vành bị hẹp hoặc tắc, do xơ vữa mạch máu, hoặc do cục máu đông), sẽ xuất hiện các triệu chứng của cơn đau thắt ngực.

Người bệnh thường đau theo cơn. Cơn đau điển hình là đau sau xương ức, hơi lệch trái, đau bóp nghẹt ngực hoặc đau nhói như dao đâm. Đau có thể lan lên cổ, lên cằm, hoặc lan ra sau lưng hay lan xuống cánh tay. Cơn đau tiến triển tăng dần, kéo dài khoảng 15 đến 30 phút. Cơn đau giảm đi khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc. Các triệu chứng kèm theo thường là vã mồ hôi lạnh, hoa mắt chóng mặt, đau đầu, nôn, buồn nôn, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi… Mặc dù không nặng nề như nhồi máu cơ tim hay đau thắt ngực không ổn định, nhưng cơn đau thắt ngực ổn định cũng có thể nguy hiểm tính mạng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người bệnh. Nếu được chẩn đoán đau thắt ngực ổn định, bạn cần phải đi khám định kỳ và được theo dõi bởi thầy thuốc chuyên khoa tim mạch.

Bạn có nguy cơ cao tổn thương động mạch vành và xuất hiện triệu chứng của cơn đau thắt ngực nếu bạn thuộc một trong những nhóm đối tượng sau: nam giới, tuổi cao, hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn mỡ máu, tiền sử gia đình có người thân bị bệnh mạch vành…

Câu hỏi 41: Phải làm gì khi bản thân hoặc người nhà bị cơn đau ngực trái đột ngột?

Thông thường, đau ngực trái có thể do rất nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân tương đối lành tính (như ngoại tâm thu), trong khi lại có những nguyên nhân là tình trạng cấp cứu nặng (như nhồi máu cơ tim, phình tách động mạch chủ).

Nếu bạn còn trẻ tuổi, không có tiền sử bệnh tim mạch, cơn đau ngực ngắn (kéo dài khoảng vài chục giây đến nửa phút) thì thường không liên quan đến tình trạng cấp cứu nghiêm trọng. Hãy bình tĩnh nghỉ ngơi để cơn đau qua đi và đến khám bác sỹ.

Ngược lại, nếu bạn là người có tuổi, có tiền sử bệnh tăng huyết áp, tiền sử đái tháo đường, thì cơn đau ngực trái là một dấu hiệu cho thấy bạn cần phải đến cơ sở y tế ngay lập tức.

Nếu bạn đau ngực theo từng cơn, mỗi cơn kéo dài từ 10 phút đến vài giờ, có khả năng bạn bị mắc bệnh mạch vành. Các triệu chứng của cơn đau ngực rất đa dạng, như đau bóp nghẹt ngực, đau bỏng rát, đau như dao đâm, hoặc chỉ là cảm giác tức hay nặng ngực. Cơn đau không giảm đi khi thay đổi tư thế. Những triệu chứng kèm theo có thể là vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mệt, đánh trống ngực,… Nếu bạn có tiền sử tăng huyết áp, và đau ngực liên tục không giảm, cơn đau lan ra sau lưng, có khả năng bạn bị phồng hay tách thành động mạch chủ. Cả bệnh mạch vành và phồng tách động mạch chủ đều là tình trạng cấp cứu nội khoa, Sự chậm trễ trong việc cấp cứu có thể khiến bạn phải trả giá bằng mạnh sống của mình. Do vậy, hãy đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt.