All posts by admin

NÓNG! Nội soi đại tràng, vô tình phát hiện Polyp “khổng lồ”!

Bạn C. T (25 tuổi) đến Trung tâm tiêu hóa bệnh viện Đông Đô trong tình trạng người mệt mỏi, khó chịu, đau bụng vùng bụng dưới nhiều ngày, quyết định thực hiện nội soi dạ dày, đại tràng gây mê để kiểm tra.
Trong quá trình nội soi, các bác sĩ đã phát hiện đại tràng ngang đoạn gần góc lách có polyp chân rộng, kích thước >5.0 cm là nguyên nhân gây ra khó chịu cho người bệnh. Theo các chuyên gia, polyp này có khả năng phát triển thành U.T rất cao nên cần phải được cắt bỏ, đặc biệt khi người bệnh còn rất trẻ.
Kết hợp với chuyên gia đến từ BV Bạch Mai, cũng như sự hỗ trợ của hệ thống nội soi hiện đại, Ê kíp đã tiến hành cắt toàn bộ polyp ở vị trí đại tràng, thủ thuật gọn, an toàn, xử lý triệt để.
– Nội soi đại tràng cắt polyp – là phương pháp tối ưu, với 1 loạt ưu điểm vượt trội như: can thiệp không xâm lấn, không đau, rất ít biến chứng.
—————–
=> Khi có các dấu hiệu như: đau bụng thường xuyên, kéo dài, buồn nôn, nôn, ợ chua, ợ hơi, mệt mỏi, sút cân, đại tiện phân không đều, bạn nên đi gặp bác sĩ để được tư vấn và có biện pháp điều trị hiệu quả. Bệnh lý đường tiêu hóa thường diễn ra âm thầm, ít triệu chứng, trên mọi lứa tuổi, vì vậy, điều quan trọng là cần thực hiện thăm khám định kỳ, thường xuyên.

Mỗi nhân viên khỏe mạnh là một tài sản quý giá!

Mỗi nhân viên khỏe mạnh là một tài sản quý giá!
Là nhân tố thành công cho doanh nghiệp!
Với phương châm “con người là trọng tâm – tôn vinh giá trị con người”, Công ty Y. đã thực hiện nhiều chương trình nhằm mục đích nâng cao sức khỏe cho nhân viên. BV Đông Đô được lựa chọn đồng hành cùng doanh nghiệp trên chặng đường chăm lo sức khỏe cho doanh nghiệp.
Ngoài đội ngũ y bác sĩ chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm, hệ thống trang thiết bị hiện đại, BV Đông Đô đã cùng doanh nghiệp:
+ Lấy mẫu tận nơi
+ Tổ chức nội dung khám phù hợp đặc điểm doanh nghiệp
+ Thời gian tổ chức linh động phù hợp với thời gian làm việc của doanh nghiệp
+ Quy trình nhanh chóng, chuyên nghiệp, an toàn
+ Giá cả ưu đãi, tư vấn miễn phí, chi tiết
Cảm ơn doanh nghiệp đã lựa chọn và tin tưởng BV Đông Đô.
=> Liên hệ ngay để được tư vấn và lên kế hoạch khám phù hợp cho doanh nghiệp của bạn.
Một số hình ảnh tại buổi khám:

Những triệu chứng bệnh tim mạch dễ nhầm lẫn!

Bệnh lý tim mạch đang ngày càng phổ biến trong thời đại ngày nay, đặc biệt trong giới trẻ khi áp lực công việc và cuộc sống gia tăng. Tuy nhiên, có khá nhiều triệu chứng sớm của bệnh lý tim mạch, nhưng thường bị nhầm lẫn bởi các loại bệnh khác. Vì vậy, việc quan trọng là cần thăm khám định kỳ ít nhất 6 tháng/lần và khám toàn diện, tổng quát.
Những triệu chứng dễ nhầm lẫn như:
1- Ho. Đây là một triệu chứng của bệnh cúm virus hoặc tình trạng hô hấp, vì vậy mọi người không bao giờ nghĩ nó liên quan đến bệnh tim. Tuy nhiên, khi tim không bơm đủ máu đến phổi, nó có thể khô và gây ho dai dẳng, vì vậy ho cũng là một dấu hiệu của bệnh tim.
2- Khó thở – cũng là vấn đề hô hấp như hầu hết mọi người nghĩ. Khi tim không bơm đủ máu đến phổi, triệu chứng này có thể xảy ra.
3- Phù nề ở chân – khi tim bạn không bơm đủ máu đến vùng chân, chất lỏng dư thừa vào vùng chân và bàn chân, gây sưng tấy.
4- Buồn nôn: có thể nghĩ đến bệnh tiêu hoá. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ ra sự hiện diện của bệnh tim, như ngực và vùng trên dạ dày có thể bị co thắt khi máu lưu thông kém, làm cho một người cảm thấy buồn nôn.
=> Liên hệ để được tư vấn ngay khi có những triệu chứng trên

Tháng tri ân nhà giáo Việt Nam – Ưu đãi 50% gói khám Suy giãn tĩnh mạch!

Tháng tri ân nhà giáo Việt Nam
Ưu đãi 50% gói khám Suy giãn tĩnh mạch!
Chúng tôi hiểu rằng, giáo viên là những người lái đò thầm lặng, đằng sau những giờ giảng bài miệt mài, say sưa là những đôi chân mỏi rã, đau nhức vì phải đứng quá lâu.
Theo 1 nghiên cứu của ĐH Y Thái Nguyên, trong số 275 giáo viên được nghiên cứu, có 57% GV mắc bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới, số người mắc bệnh tỷ lệ thuận với thời gian công tác và cường độ giảng dạy.
Các dấu hiệu thường gặp là Tức nặng chân; Mỏi chân, Chuột rút; Cảm giác châm chích; Giầy, dép chật hơn.
Các biến chứng thường thấy là vỡ hoặc viêm tắc chỗ giãn tĩnh mạch, loét da, và nguy hiểm nhất là thuyên tắc lòng tĩnh mạch.
Để tri ân thiết thực nhất, nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, BV Đông Đô gửi đến tất cả các GV ưu đãi 50% gói khám suy giãn tĩnh mạch.
=> Liên hệ để được tư vấn rõ hơn!

LÀM SAO CHẨN ĐOÁN SỎI TIẾT NIỆU?

Những dấu hiệu của cơn đau quặn thận

  • Đau: Tính chất đau dữ dội, mãnh liệt, cảm giác bị co thắt bên trong, lăn lộn, không nằm ở tư thế nào để giảm đau, nôn và buồn nôn. Vị trí: Vùng hố sườn lưng 1 bên hay 2 bên cả vùng hạ sườn. Tức nói khi vỗ vào hố lưng, có thể sờ thấy thận nếu to, chạm thận-bập bềnh thận dương tính. Hướng lan: Từ hố thắt lưng lan xuống dưới hoặc ra phía trước đến hố chậu rồi bộ phận sinh dục ngoài và mặt trong đùi.
  • Tiểu tiện: Tiểu máu, sau cơn đau quặn thận, máu toàn bãi, thường tái phát khi bệnh nhân rung chuyển nhiều và mạnh, đỡ dần khi nghỉ ngơi. Ngoài máu có thể tiểu ra mủ (dấu hiệu cần nghĩ đến sỏi thận), tiểu buốt hay gắt (nếu viêm đài – bể thận).
  • Sốt: Sốt cao, rét run nếu có viêm đài – bể thận.

Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh

  • Nhằm mục đích chẩn đoán xác định sỏi, chẩn đoán biến chứng do sỏi gây ra và tìm nguyên nhân thuận lợi tạo sỏi.
  • Cần biết lựa chọn từng phương pháp từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với từng trường hợp.
  • Để chắc chắn cần xét nghiệm nước tiểu: Tìm các tinh thể (calci oxalat hay phosphat, acid uric, citrat, magnesium…), đo pH, cấy nước tiểu. Siêu âm, chụp thận UIV, UPR hay không chuẩn bị
  • Xét nghiệm máu: Định lượng hormon tuyến cận giáp, công thức máu…
  • Lựa chọn phương pháp thăm dò nào do bác sĩ khám và quyết định

Chính vì những biến chứng nguy hiểm mà sỏi thận gây ra nên có  những trường hợp cần can thiệp cấp cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến chứng đau nhiều, đái  ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận. Sỏi thận tiết niệu là một bệnh lý phức tạp, thường gây ra nhiều biến chứng. Vì vậy khi phát hiện ra sỏi thận tiết niệu, bệnh nhân nên đến ngay với bác sĩ chuyên khoa thận tiết niệu để được tư vấn và có biện pháp điều trị phù hợp.

Sỏi tiết niệu – những điều cần biết

Sỏi tiết niệu là sỏi nằm ở các cơ quan thuộc hệ tiết niệu ( bao gồm sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo…).

Đối tượng nguy cơ: Nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ từ 2-3 lần. Sỏi gặp nhiều ở người trưởng thành hơn là ở trẻ em và người già. Những người sinh sống ở những nơi khí hậu nóng và khô cằn tỷ lệ mắc sỏi cao hơn.

Nguyên nhân:

Quá trình hình thành sỏi thường bắt nguồn từ các muối khoáng hòa tan trong nước tiểu. Khi có những rối loạn về mặt sinh lý bệnh học và có những yếu tố thận lợi như giảm lưu lượng nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, dị dạng đường tiết niệu hoặc có yếu tố di truyền thì các muối khoáng hòa tan sẽ kết tinh từ một nhân nhỏ rồi lớn dần thành sỏi.

Phân loại sỏi tiết niệu:

Sỏi Canxi:

Nguyên nhân chính là tình trạng nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi do tăng hấp thu canxi ở ruột hoặc tăng tái hấp thu canxi ở ống thận. Xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy canxi niệu tăng rất cao. Bình thường thận đào thải khoảng 300 mg canxi qua nước tiểu trong 1 ngày, trong trường hợp nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi lượng canxi đào thải qua nước tiểu có thể tăng lên 800-1000mg/24h với chế độ ăn bình thường.

Nguyên nhân thứ 2 là giảm citrat niệu. Citrat niệu có tác dụng ức chế kết tinh các muối canxi. Khi có toan máu, nhiễm khuẩn tiết niệu, hạ Kali máu thì thường citrat niệu giảm. Khi thiếu citrat nước tiểu sẽ bão hòa muối canxi tạo điều kiện kết tinh sỏi.

Nguyên nhân thứ 3 là nước tiểu quá bão hòa về Oxalat. Thức ăn chứa nhiều oxalat như rau chút chít, đại hoàng hoặc trong trường hợp ngộ độc vitamin C sẽ dẫn đến tình trạng này. Ở người bị viêm ruột, cắt một phần ruột non cũng thường thấy tăng oxalat niệu và có sỏi oxalat, những người có rối loạn hệ thống men chuyển hóa ở gan do di truyền gây tăng bài xuất acid oxalic để tạo thành oxalat cũng dễ có sỏi oxalat.

Sỏi acid uric:

Nguyên nhân là do nước tiểu quá bão hòa acid uric tạo điều kiện gây sỏi urat  và thường có tăng acid uric niệu đi kèm. Sỏi acid uric gặp trong tăng acid uric máu, bệnh goutte, trong một số trường hợp di truyền.

Sỏi struvit:

Sỏi struvit là do nhiễm khuẩn lâu dài đường tiết niệu, vi khuẩn giải phóng men urease, men này phân giải ure gây tổng hợp ammoniac trong nước tiểu giảm, dẫn tới làm giảm hòa tan struvit (MgNH4PO46H2O) tạo điều kiện hình thành sỏi.

Sỏi cystin:

Sỏi cystin là do cystin bị đào thải nhiều qua thận nhưng ít hòa tan nên dễ đọng thành sỏi.

Những biến chứng thường gặp do sỏi tiết niệu:

Sỏi tiết niệu thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp hay tắc nghẽn, do đó những vị trí có sỏi thường là thận, niệu quản chậu hoặc sát bàng quang, cổ bàng quang, niệu đạo, lỗ sáo. Sự di chuyển của sỏi, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng, đái ra máu  nếu sỏi ở thận, niệu quản.
–         Sỏi tại bàng quang, niệu đạo sẽ gây đái buốt, đái rắt, đái khó.
–         Nếu sỏi bị kẹt trong đài thận, sỏi sẽ chèn ép làm bế tắc đài thận nên đài thận giãn, lâu dần thận sẽ giãn mỏng như một túi nước. Khi các đài thận bị ứ nước tiểu, sẽ tạo ra áp lực cao tác động vào thần kinh thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận.
–         Khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì nguy cơ niêm mạc bị phù nề, viêm, là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục.
–         Nếu sỏi gây nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Nếu thận ứ mủ  nhiều giãn to đài bể thận có thể phải cắt bỏ thận.
–          Tắc nghẽn đường tiểu làm tồn đọng nước tiểu gây viêm nhiễm lâu ngày sẽ dẫn đến xơ hóa thành đường tiểu kể cả đài thận.
–         Viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn làm hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Sự hiện diện lâu ngày của sỏi hai bên niệu quản hay sỏi thận một bên còn bên kia sỏi niệu còn dẫn đến hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có  sỏi ở hai bên thận, nhất là khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận cấp hoặc mạn tính.